Bí đỏ còn gọi là bí ngô, bí rợ, tên khoa học là Cucurbita pepo,
họ Bầu bí. Dây bí đỏ mọc lan trên mặt đất. Hiện nay có nhiều
loài mà quả có hình dáng và màu sắc khác nhau: hình cầu, hình
cầu dẹt, hình trụ; vỏ nâu, vỏ vân, vỏ sẫm màu ; thịt đỏ, thịt
hồng, thịt vàng ; có loại nặng trên 100kg. Trong số đó có khá
nhiều loài lai giống
A- Đọt bí.
Đọt bí ngô dùng làm rau ăn: xào,
um (xào nước) hay nấu canh. Đọt bí có tính thanh nhiệt, nhuận tràng nhờ
chất xơ kích thích nhu động ruột.
Món chay đọt bí đỏ
nấu với cà chua. Đọt bí và cà chua đều thanh nhiệt, nhuận tràng. Đây là
một kết hợp đồng vận vì cả hai đều có tính chống oxy-hoá ; tăng tính trị
liệu cũng tăng khẩu vị. Khi trời nắng nóng nên ăn món này.
B- Hoa bí .
Hoa bí cũng thanh nhiệt nhuận
tràng nhưng hơi chát nên có tính thu sáp nhẹ. Thu sáp nên cầm mồ hôi, cố
tinh.
Nhuyễn thể (nghêu, sò, ốc, hến)
có khả năng cường dương. Aên với hoa bí để cố tinh, chống hoạt tinh.
Cuốn nhuyễn thể vào trong hoa bí rồi xào nấu sẽ có một món ăn ngon lại
tăng khả năng tình dục nữa. Đó là món “ông khen ngon, bà khen hay”.
Hoa bí có
beta-carotene, một chất tiền sinh tố A. Vào cơ thể, betâa-caroten sẽ
chuyển hoá thành vitamin A với hiệu suất khoảng 25%. Hoa bí um cà chua
là món ăn chay có tính thanh nhiệt. Lycopen trong cà chua giúp tăng hấp
thụ caroten vào máu.
C- Quả bí non.
Đồng bào khẩn hoang
thường trồng các cây ngắn ngày như ngô, khoai mì, bí đỏ…. Quả bí đỏ non
dùng thay rau, luộc hoặc nấu canh ; nhưng ăn nhiều bị tiêu chảy. Đọt bí
làm rau ăn an toàn hơn quả non.
D- Quả bí chín.
100g quả bí chín sinh 25-30
calori. Thành phần: 90% nước,8% glucid, 1% protein, 19mg photpho, 430mg
kali, 23mg calci, 17mg manhê, 0,5mg sắt, 8mg vitamin C (15% nhu cầu hàng
ngày), 22mcg folacin (11%), 1mg beta-caroten.
Quả bí đỏ được dùng làm nhiều
món ăn ngon: luộc, xào, nấu canh:
Quả bí còn dùng để nấu chè, cháo
và nhất là các món ăn chay
tác dụng của quả bí
1- Thanh nhiệt, giải khát,
sinh tân dịch. Vào nùa nóng nực nên ăn bí đỏ.
2-Quáng gà, khô mắt-
trong thị bí đỏ chứa nhiều
vitamin A, nên có tác dụng chữa quáng gà, rất tốt. quáng gà là
bệnh mắt khô, tầm chiều tói không nhìn rỗ được. ăn nhiều bí ngô sẽ khỏi,
mà không gây tác dụng phụ như dùng vita minA đơn thuần
3- Giảm
béo: Bí đỏ có
khả năng sinh nhiệt thấp nên dùng vào thực đơn giảm thân trọng. Mập phì
do cơ thể tích nhiều mỡ.
4- Phòng chống bệnh tim mạch.
Sự kết đọng
chất béo làm thành mạch máu mất tính đàn hồi nên huyết áp tăng. Vết kết
đọng này kéo theo sự oxyd-hoá lipoprotein và tạo xơ động mạch, thành
mạch dày thêm và mạch máu giảm khẩu độ, sự tuần hoàn thêm trì trệ, dẫn
tới thiểu năng động mạch vành. “Máu nhiễm mỡ” cũng tạo thuận lợi cho sự
kết đọng tiểu cầu, sảnsinh ra máu cục ; máu cục làm tắc nghẽn mạch máu
tim gây chết đột tử do nhồi máu cơ tim ; nó vào não gây tai biến mạch
máu não. Rõ ràng việc ăn kiêng để tiêu hoa mỡ là biện pháp tiên khởi
phòng chống các bệnh tim mạch.
Xơ động mạch do lipoprotein LDL
oxyd hoá. Beta-caroten trong bí đỏ có khả năng chống oxyd hoá nên hữu
ích trong trường hợp này.
Chất xơ trong bí đỏ khoá hoạt
tính cuả cholesterol và kéo theo phân. Chúng ta biết rằng chất béo phải
nhờ cholesterol nhũ hoá mới ngấm được vào máu. Cholesterol bị khoá hoạt
tính nên cả cholesterol và chất béo đều không vào máu và bị bài xuất
theo phân. Kết quả là cholesterol và chất béo đều giảm, đồng thời giảm
nguy cơ bệnh tim mạch..
5- Trị bệnh tiểu đường.
Bệnh tiểu đường có liên quan gì
đến mỡ đâu mà cũng phải kiêng mỡ và giảm thân trọng ? Sự kết đọng chất
béo và xơ động mạch ngăn chặn glucoz khuếch tán vào các mô. “Máu nhiễm
mỡ” làm cho tuần hoàn trì trệ, tạo thuận lợi cho việc liên kết protein-glucoz
; dưới dạng liên kết đại phân tử, glucoz không thể thoát ra ngoài mạch.
Đây là hai nguyên nhân khiến glucoz-huyết tăng ở những người mập phì bị
bệnh tiểu đường loại II (không phụ thuộc insulin).(Ref…
Beta-caroten chống oxyd hoá
lipoprotein LDL, ngăn chặn xơ động mạch nghĩa là giúp cho glucoz phân
tán được ra khỏi mạch máu. Beta-caroten trong quả bí đỏ còn chống lão
hoá, mà lão hoá là một trong những nguyên nhân cuả bệnh tiểu đường.
Bí đỏ lại có ít chất bột nên rấ
thuận lợi cho thực đơn người bệnh tiểu đường.
6- Nhuận tràng.
Quả bí còn non nhận tràng mạnh
hơn bí chín. Người mập phì thường táo bón. Aên bí đỏ vưà giảm cân vưà
nhuận tràng.
d.7- Món ăn bí đỏ.
Với tất cả các bệnh trên nên ăn món canh chay bí đỏ nấu với cà
chua, nấm rơm hoặc nấm đông cô, thêm súp lơ hoặc bắp cải càng tốt.
E- Hạt bí.
100g hạt bí (phần ăn được) sinh
541 calori, có 25g protein, 46g chất béo, gamma tocophenrol, delta-phytosterol
và một aminoacid riêng biệt là cucurbitin. Các delta 5-, delta 7-, delta
8-phytosterol (24-alkylsterols) bao gồm clerosterol, isofucosterol,
sitosterol, sitgmasterol, isoavenasterol, spinaterol (theo Harbal
medicines 1999).
1 Hạt dưa ngày tết. Chất béo
sinh 76% năng lượng cuả hạt bí đỏ, chia ra 15% do acid béo bão hoà, 35%
do acid béo nhiều nối đôi, 23% do acid béo một nối đôi. Với thành phần
này, chất béo trong hạt bí ngô tương đối tốt, hơn hạt dưa nhưng không
bằng hạt hướng dương. Trong dịp tết, hãy thay tập quán cắn hạt dưa bằng
hạt bí đỏ, vưà tốt hơn, dễ cắn hơn và không có phẩm màu (tăng nguy cơ
ung thư).
2- Trị giun sán.Y học dân gian
đã dùng hạt bí để trị giun sán. Mỗi lần dùng khoảng 50g hạt bí rang (kể
cả vỏ). Bỏ vỏ, ăn hạt vào sáng sớm. Không nhịn ăn cũng được nhưng nhịn
ăn vẫn tốt hơn. Một giờ sau uống thuốc xổ thì tốt hơn. Nên dùng vài ba
lần cho hết hẳn trứng ký sinh trùng.
Dịch chiết cồn hạt bí đỏ diệt
được sán xơ mít Toenia saginata vàø Toenia solium ; nó chỉ tác dụng vào
trứng và đốt sán nhưng chưa đủ hiệu lực làm tê liệt đầu sán, hãy kềt hợp
với binh lang (hạt cau) thì kết quả hoàn chỉnh, 95%. Để diệt sán xơ mít,
uống 90-120g hạt bí rang (đã bỏ vỏ), kết hợp với hạt cau. Thuốc hiệu lực
trong vòng 40-60 phút.
Dịch chiết nước trị được giun
đuã và giun kim. Người ta đã phát hiệntrong hạt bí đỏ chất cucurbitine,
hiện đã tổng hợp được. Cucurbitin có thể trừ được giun đũa và gium kim
với nồng độ ¼.000 (Fang SD, Acta Chim Sin 1962.) Vấn đề chưa sáng tỏ là
hoạt chất trị sán xơ mít là cucurbitine hay chất khác.
Chen Z đã bá cáo rằng hạt bí đỏ
có khả năng diệt Schistosomia,cả ấu trùng lẫn trưởng thành. (Acta Pharm
Sin 1980).
3- Hạt bí có khả năng ức chế
kháng thể IgE trong một vài trường hợp dị ứng. Nó cũng có tác dụng với
kháng thể anti-DNA (Kapadia GJ. Cancer letter 1996).Tính chất này mới
thấy trong phòng thí nghiệm nhưng chưa thử nghiệm lâm sàng.
.4- Bệnh tiết niệu.
- Y học cổ truyền dùng hạt bí
đỏ trị các bệnh đường tiết niệu.
- Có khá nhiều bệnh tiết niệu,
không xác định bệnh gì nên có nguy cơ dùng thuốc không đúng bệnh. Y học
cổ truyền thiếu chính xác.
- Phê bình như vậy cũng đúng
thôi nhưng mà…
- Dùng thuốc trị bệnh
cần phải chính xác. Khi nói một thuốc trị bệnh tiết niệu, cần nói rõ
bệnh ở cơ quan nào: quả thận, ống tiểu, bàng quang hay ống thoát tiểu ;
loại bệnh gì: nhiễm trùng, viêm, tổn thương…Thuốc đó tác dụng vào mô
nào: thần kinh, cơ trơn,biểu mô…chính xác hơn là với thụ thể nào…Đã qua
rồi thời kỳ nhắm mắt dùng thuốc.
- Ghê quá, chọc đúng chỗ ngưá
nên phát biểu hùng hồn cứ như…máy cassette. Nhưng mà…
- Không nhưng mà gì hết…trị
bệnh cho người mà !
- Với cái nhìn chính xác cuả
khoa học hiện đại, phê bình thế là đúng thôi.
- Có thế chứ !
- Y
học cổ truyền có từ hàng ngàn năm trước. Muốn phê bình ngành học này,
chúng ta phải là đặt mình vào bối cảnh lịch sử hồi đó, vào thời mà khoa
học còn là con số không. Y học cổ truyền trước tiên dưạ vào kinh nghiệm
sử dụng. Các danh y đã rút tiả kinh nghiệm để hoàn thành các “Bản thảo”.
Dùng thuốc là bước sau cuả chẩn đoán bằng tứ chẩn: vọng (nhìn), văn
(nghe) vấn (hỏi), thiết (xem mạch). Tuy không có ống nghe và siêu âm
nhưng xem mạch ở ba bộ “thốn, quan, xích” ở cả hai tay (6 điểm) nên có
thể biết rành rẽ bệnh tình, theo đó mà đưa ra bài thuốc ; người xưa ít
khi dùng độc vị mà thường kết hợp nhiều vị với đủ khung “quân, thần,
ta,ù sứ”. Các danh y như Hải thượng lãn ông, Tuệ tĩnh là những
người tiên phong. Tiếc rằng hậu thế không học được hết tài nghệ cuả
người xưa, kèm thêm tài liệu thất lạc, học truyền khẩu nên không tận
dụng được tinh hoa và mai một dần. Vì thế việc làm cuả thế hệ chúng ta
là dùng phương tiện hiện đại để kiểm chứng, phát huy cái hay, uốn nắn
những sai lệch thiếu sót. Và hạt bí đỏ là một ví dụ.
· Lời
dạy lưu truyền là hạt bí trị bệnh tiết niệu. Kiểm chứng khoa học không
thấy khả năng kháng khuẩn và thông tiểu nhưng nó lại kích ứng bàng
quang, gây co thắt.
· Người
xưa dùng hạt bí đỏ trong chứng phì đại tuyến tiền liệt.(Nahrstedt A.
Pflanzliche Urologica 1993) Theo hiểu biết ngày nay là không đúng. Tuyến
tiền liệt phì đại chèn ép làm nghẹt ống thoát tiểu ; điều cần làm là
thông tiểu và làm roãi cơ vòng để mở khẩu độ ống thoát tiểu. Đúng ra là
dùng thuốc chẹn alpha-adrenergic chuyên biệt tiết niệu là moxisylite
(Uro-alpha)– Người xưa không dùng độc vị mà kết hợp với vài vị nữa. Biết
đâu thuốc kết hợp khác có tác dụng chẹn alpha-adrenergic hoặc roãi cơ
vòng ; còn hạt bí co thắt bọng đái ; nghĩa là tấn công nhiều mặt. Đây
chính là việc cần làm, tìm bài thuốc và giải phương các bài thuốc này.
Tại Aâu châu, các nhà Y học Đức đã đi tiên phong trong lãnh vực này, họ
nghiên cứu nghiêm chỉnh, khách quan, trung thực và không thành kiến.
Hiện nay Nhật, Singapore, Trung quốc đang tập trung khảo sát dược liệu .
.5- Ung thư
Chúng ta biết rằng tiền liệt
tuyến (có nhiệm vụ sinh tinh dịch) bao quanh ống thoát tiểu từ bàng
quang ra dương vật. Tiền liệt tuyến phì đại (thường gặp ở đàn ông lớn
tuổi) có biểu hiện bí tiểu, muốn tiểu mà tiểu không được, mỗi lần chỉ
đái được một ít, vừa tiểu xong lại buồn tiểu nữa, gần như thường xuyên
gác cửa cầu tiêu. Luôn luôn tức bụng, bọng đái đầy nước tiểu nhưng không
thoát ra được, đúng là “tức vỡ bọng đái”. Hạt bí đỏ kích ứng bàng quang
nghĩa là tăng áp lực ở bàng quang, nhưng lống thoát bị nghẹt nên càng
tức bụng hơn.
Nguyên nhân gây tiền liệt tuyến
phì đại hoặc ung thư là do testosteron và dẫn chất. Hạt bí đỏ có các
phytosterol . Testosteron và phytosterol cùng có nhân sterol. Các thụ
thể cuả testosteron nhận diện nhầm và nhận phytosteron. Chúng ta ví dụ
thụ thể như ổ khoá, còn testosteron là chìa khoá ; chúng chỉ phát huy
khả năng nếu khoá tra vào chìa. Với cấu trúc gần giống testosterol,
phytosterol được coi như chiả khoá giả, nó cũng tra được vào ổ khoá
nhưng tác dụng rất yếu. Đó là cơ chế ngăn chặn ung thư cuả phytosterol.
Miersch WDE. Benigne prostatahyperplasie. DAZ 1993)
Bệnh ung thư ở phụ nữ. Các bệnh
ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư tử cung thường liên quan đến
estrogen. Các thực phẩm có phytosterol như đậu nàh, hạt bí đỏ phần nào
có ích trong việc ngăn chặn các loại ung thư này. Xin nhấn mạnh rằng,
những thực phẩm này không thay thế được thuốc trị bệnh, chúng chỉ là
thực phẩm hỗ trợ, tỏ ra hữu hiệu trong việc ngăn chặn mà thôi.
Điều khuyến cáo thực tiễn là hãy
tăang sử dụng sản phẩm từ đậu nành, ăn thêm hạt bí đỏ thay vì hạt dưa
nhưng không ăn nhiều.
F- Loài gần giống:
Bí đỏ mì sợ = Spaghetti squash
Bề ngoài có hình dáng và màu
sắc giống dưa bở. 100g Bí này chỉ sinh 33 calori. Nó có rất ít chất bổ
dưỡng. Sau khi luộc và bócvỏ, đánh tơi lên sẽ xuất hiện những mớ rối
trông như mì sợi, do đó có tên Bí đỏ mì sợi. Bí này có tính nhuận trường,
dùng làm thực phẩm gìam thân trọng.
Bí đỏ, Tác dụng
Bí đỏ, Bí đỏ vị thuốc quí, Bí đỏ và sức khỏe, cách dùng Bí đỏ, mua
Bí đỏ, nơi bán Bí đỏ, mua bán Bí đỏ, giá cả Bí đỏ, công năng Bí đỏ,
nơi mua bido, bido, tac dung cua bido, bido vi thuoc qui, bido
và suc khoe, cach dung bido, mua bido, noi ban bido, mua ban
bido, gia ca bido, cong nang bido, nơi mua bido, bi do, tac dung
bi do, baithuoc co bi do, cach dung bi do, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP