Bàm
bàm, Ðậu dẹt - Entada phaseoloides (L.) Merr., thuộc họ Ðậu
- Fabaceae.
Mô tả: Cây leo gỗ dài tới
30m. Lá 2 lần kép, ở đầu cuống chung của lá có tua cuốn chẻ
hai; lá chét bậc ba 1-2 cặp, không lông, dai, dài 8-10cm, lá
kèm 5mm. Bông dài đến 25cm; cánh hoa 3mm, bầu không lông.
Quả rất to, dài đến 1-2m, rộng đến 15cm, thắt lại giữa các
hạt; vỏ quả trong mỏng. Hạt tròn dẹp to 6x5cm, vỏ nâu đậm.
Bộ phận dùng: Dây và hạt -
Caulis et Semen Entadae.
Nơi sống và thu hái: Loài này
phân bố từ Nam Trung Quốc các nước Ðông Dương đến Niu Ghinê,
Ôxtrâylia. Ở nước ta cây mọc phổ biến ở ven rừng, ven suối
và thường hay gặp trong các rừng thứ sinh thường xanh và
rụng lá.
Dây
thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát, đồ rồi phơi khô dùng;
hạt thu hái vào mùa đông, mùa xuân, lột bỏ vỏ, hấp hoặc rang
lên, phơi khô hoặc tán bột.
Thành phần hoá học: Thân dây
chứa saponin. Hạt chứa một lượng saponin nhiều hon và cũn có
một loại glucosid độc. Thân cây đập dập ngâm nước cho một
chất lỏng màu hung có tính chất của xà phòng.
Tính vị, tác dụng: Dây có vị
hơi đắng và chát, tính bình; có tác dụng trừ thấp, hoạt
huyết. Hạt có vị ngọt và chát, tính bình, có độc, có tác
dụng chống co giật, giảm đau, lợi tiểu.
Dùng
dây 10-30g, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống; đun sôi lấy
nước tắm rửa. Dùng hạt dạng bột 1-3g, hoà với nước rồi uống.
Dân
gian có khi dùng lá chữa nóng sốt, sài giật trẻ em. Dùng
50-100g lá tươi Bàm bàm phối hợp với lá Răng ngựa, lá Găng
trâu, lá Chanh giã nhỏ xát khắp người như kiểu đánh gió.
Ghi chú: Hạt độc, thường dùng
để duốc cá. Ðể làm thuốc, cần hấp, rang cẩn thận và tránh
dùng nhiều, nếu bị ngộ độc thường có dấu hiệu choáng váng,
buồn nôn, cao huyết áp, chậm nhịp tim và thậm chí có thể
chết người