Vị thuốc Bạch biển đậu còn gọi Duyên ly đậu, Nga mi đậu (Bản Thảo Cương Mục),
Dang song, Bạch biển đậu, Bạch nga mi đậu, Sương mi đồng khí (Hòa Hán
Dược Khảo), Nam biển đậu (Trấn Nam Bản Thảo), Bạch mai đậu, Sao biển đậu,
Biển đậu y, Biển đậu hoa (Đông Dược Học Thiết Yếu), Trà đậu (Giang Tô
Thực Vật Chí), Thụ đậu (Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương Phương),
Bạch biển đậu tử (Yếu Dược Phân Tễ), Đậu ván trắng, Biển đậu, Bạch đậu,
Đậu bàn trắng, Đậu ván (Việt Nam), Thúa pản khao (Tày nùng), Tập Bẩy Pẹ
(Dao).
Tác dụng & Chủ trị:
Bạch biển đậu
+ Bổ ngũ tạng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Chủ hành phong khí, phụ nữ bị đới hạ, trị trúng
độc các loại thảo dược (Bản Thảo Đồ Kinh).
+ Chỉ tiết lỵ, tiêu thử, noãn Tỳ Vị, trừ thấp
nhiệt, chỉ tiêu khát (Bản Thảo Cương Mục).
+ An thai (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
+ Hòa trung hạ khí, bổ tỳ, chỉ khát, lỵ, hóa thấp.
Trị bạch đới, bạch trọc, thổ tả, giải độc của rượu (Trung Quốc Dược Học
Đại Từ Điển).
+ Kiện Tỳ, hóa thấp, hòa trung, tiêu thử. Trị Tỳ
Vị hư nhược, ăn uống không tiêu, tiêu chảy, bạch đới, thổ tả do thử thấp,
bụng ngực đầy trướng, Bạch biển đậu sao có tác dụng kiện Tỳ, hóa thấp.
Dùng trị Tỳ Vị hư yếu, bạch đới (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược
Điển).
+ Hòa trung, hóa thấp, thanh thử, giải độc. Trị
tiêu chảy, đới hạ, bạch trọc, thổ tả do cảm thử nhiệt.(Đông Dược Học
Thiết Yếu).
+ Quả non: là nguồn thực phẩm quý, món ăn giầu
chất bổ.
+ Quả gìa cho hạt làm thuốc.
+ Bạch biển đậu có tác dụng hạ sốt, kiện Vị, giải
co thắt, kích thích sinh dục
(Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Liều dùng:
Dùng từ 8 - 12g.
Kiêng
kỵ:
+ Đang bị chứng thương hàn, hoặc có ngoại tà cấm
dùng (Trung Dược Học).
+ Trường vị có trệ, không dùng (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị lở ngứa: Biển đậu gĩa nát, đắp vào chổ vảy
rụng (Trữu Hậu Phương).
+ Trị thổ tả: Bạch biển đậu, Hương nhu mỗi thứ
40g, sắc với 6 chén nước còn lại 2 chén chia ra uống (Thiên Kim Phương).
+Trị bụng đau, thổ tả vào mùa hè do nội thương thử
thấp:
. Bạch biển đậu 12g, Hậu phác 8g, Hương nhu 12g.
Sắc uống (Hương Nhu Tán - Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương).
+ Trị tiêu chảy do Tỳ hư: Đảng sâm, Bạch truật,
Phục linh, Cam thảo mỗi thứ 1280g, Liên nhục, Ý dĩ nhân, Sa nhân, Cát
cánh mỗi thứ 640g, Bạch biển đậu 960g, Tất cả tán bột, mỗi lần uống
12g, ngày 2-3 lần, uống với nước sắc Đại táo (Sâm Linh Bạch Truật Tán –
Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị thổ tả vọp bẻ: Bạch biển đậu, tán bột uống
với giấm (Phổ Tế phương).
+ Trị tiểu đường, khát nước: Bạch biển đậu, ngâm
nước, bỏ vỏ, nghiền nhỏ, trộn với mật ong và nước sắc của Thiên hoa phấn
làm viên bằng hạt Ngô đồng, lấy kim bạc bọc ngoài làm áo, mỗi lần uống
20-30 viên với nước sắc Thiên hoa phấn, ngày 2 lần. Cữ thức ăn nóng,
chiên xào, rượu, đàn bà. Sau đó dùng tiếp thuốc tư bổ thận (Nhân Tôn
Đường phương).
+ Trị xích bạch đới: Bạch biển đậu sao tán bột,
mỗi lần uống 8g, với nước cơm (Vĩnh Loại Kiềm phương).
+ Trị thai bị trệ vì uống lầm thuốc làm bụng
đau:Bạch biển đậu sống, bỏ vỏ, tán bột, mỗi lần uống 1 thìa với nước
cơm, có thể sắc uống (Vĩnh Loại Kiềm phương).
+ Trị trúng độc Nhân ngôn, Thạch tín: Biển đậu
sống tán, trộn lấy nước uống (Vĩnh Loại Kiềm phương).
+ Trị sinh non (bán sản): Bạch biển đậu 20g, Bạch
mao căn 30g, Bạch truật 8g, Bán hạ 8g, Nhân sâm 8g, Sinh khương 20g, Tỳ
bà diệp (bỏ lông) 8g. Tán bột, uống mỗi lần 8g (Bạch Biển Đậu Tán - Loại
Chứng Phổ Tế Bản Sự Phương).
+ Trúng độc các loại thịt chim: Biển đậu nghiền
nhỏ uống với nước lạnh (Sự Lâm Quảng Ký phương).
+ Trị nôn mửa, lỵ, do thương thử: Bạch biển đậu
16g, Hoắc hương 8g. sắc uống, hoặc chỉ dùng 30 hạt Bạch biển đậu gĩa
lấy nước uống cũng được (Biển Đậu Tán - Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị trúng độc của cá nóc, cá, cua, say rượu gây
bụng đau, tiêu chảy: Bạch biển đậu 30 hạt gĩa nát lấy nước uống (Kinh
Nghiệm Phương).
+ Giải các loại độc dược: Bạch biển đậu, tán bôt,
ngày uống 2 lần mỗi lần 12g. (Bạch Biển Đậu Tán – Thẩm Thị Tôn Sinh
Thư).
+ Trị máu thiếu, da vàng: Bạch biển đậu 12g, Bố
chính sâm 12g, Hạt keo dậu 6g, Hoài sơn 12g, Mẫu lệ 6g, Ô tặc cốt 6g, Ý
dĩ 6g. Sắc uống (Bạch Biển Đậu Thang - Y Phương Ca Quát).
+ Trị bụng đau, thổ tả vào mùa hè do nội thương
thử thấp: Bạch biển đậu 4g, Hoắc hương, Thương truật mỗi thứ 8g, sắc
uống, trị trường vị viêm cấp tính mùa hè (Lâm Sàng Thường Dụng Trung
Dược Thủ Sách).
+ Trị vào mùa Hè, bị thương thử, phiền táo, khát,
nôn mửa, tiêu chảy: Bạch biển đậu (sao) 120g, Hương nhu (lá) 60g. Tán
bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6g (Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương
Phương).
+ Trị tiêu chảy do Tỳ Vị hư yếu: Bạch biển đậu
(sao) 50g, Sơn dược 60g, Mạch nha (sao sơ) 30g, Sơn tra (hắc) 40g. Tán
bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 16g (Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương
phương).
+ Trị bạch đới ra nhiều mà mầu xanh: Bạch biển
đậu (sao) 16g, Sơn dược 18g, Tiền nhân 12g, Ô tặc cốt 6g. Sắc uống
(Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương phương).
+ Trị thủy thũng do Tỳ hư: Bạch biển đậu (sao
vàng) 160g, Tán bột, mỗi lần dùng 12g, ngày 3 lần (Trung Quốc Dân Gian
Bách Thảo Lương phương).
+ Trị lỵ trực khuẩn: Bạch biển đậu (hoa), dùng
tươi, 10g, Địa miên thảo (tươi) 30g, sắc uống (Trung Quốc Dân Gian Bách
Thảo Lương phương).
Dây leo, dài 4-5m, sống nhiều năm nhưng thường chỉ
trồng 1 năm. Thân hình trụ, hơi có lông. Lá kép, mọc so le, có 3 lá chét,
lá chét hình trái xoan, hình thoi cụt đầu hoặc tù ở gốc, có mũi nhọn,
ngắn, dài 5-8cm, rộng 3,5-6cm, mặt trên không lông, mặt dưới có ít lông
ngắn, gân gốc 3, cuống lá kép có rãnh, dài 5-7cm, lá kèm rụng sớm, lá
kèm nhỏ hình chỉ. Cụm hoa hình chùm, mọc thẳng đứng ở kẽ lá hoặc đầu
cành, trên cuống dài 15-25cm, gồm nhiều hoa mầu trắng, thơm.Hoa khá to,
thơm, màu trắng hay tím xếp thành chùm ở nách, mỗi mấu có 3 hoa. Quả đậu
ngắn, rất dẹt dài 6cm và rộng 2cm, gốc thuôn hẹp, đầu cụt nghiêng có
mũi nhọn, cong, mầu lục nhạt, một mép sần sùi. Hạt 4-5 nằm ngang, trắng,
vàng, nâu hay đen tùy thứ, dài 8mm, rộng 5-6mm, có mồng ở mép.
Mùa hoa vào tháng 4-5, mùa quả: tháng 9-10.
Phân bố được trồng khắp nơi, ở nông thôn hay trồng nó leo
lên cây sung hoặc hàng rào gìan hoa. Các tỉnh trồng nhiều là Bình Định,
Bình Thuận, Đồng Nai, Sông Bé.
Thu hái:
Hái hàng năm sau tiết bạch lộ, Quả thường chín vào
tháng 9-10 và kéo dài đến mùa đông.
Phần dùng làm thuốc: Dùng hạt (Semen Dolichoris)
và hoa. Thường dùng thứ nào trắng chắc, không mọt và tốt. Thứ hạt đen
hoặc tím không dùng.
Mô tả dược liệu:
Bạch biển đậu hạt hình trứng tròn, hai bên trái
phải hơi dẹt. Dài khoảng 3,5-4 phân, rộng khoảng 3,5 phân, dày khoảng 2
phân, vỏ hạt màu trắng ngà, có khi có chấm đen, nhẵn, hơi bóng, ở mép có
cạnh tù màu trắng nổi lên đó là mầm rốn hình lưỡi liềm dài khoảng 3-4
phân. Bóc đi bỏ hạt có nhân hạt màu vàng sữa, vị nhạt, khi nhai có mùi
vị đặc biệt của loài đậu.
Bào Chế:
+ Theo Trung Dược Đại Tự Điển: Lấy hạt Biển đậu có
vỏ cứng , để nguyên cả vỏ, sao chín, dùng. Có khi tẩm vào nước sôi cho
tróc vỏ, bỏ hết vỏ, dùng.
+ Theo Việt Nam:
- Thường dùng thứ hạt nguyên, có sống, khi bốc
thuốc thang thì gĩa dập.
- Dùng chín: Rửa, để ráo nước rồi sao qua cát để
khỏi cháy, khi bốc thuốc thang thì gĩa dập.
Bảo quản:
Để nơi khô ráo, tránh ẩm.
Thành Phần Hóa Học:
+ Vitamin B1, Carotene, Sucrose, Glucose,
Stachyose Maltose, Raffinose (Ayako Matushita, C A 1968, 68: 66373j).
+ Trong Bạch biển đậu có Albumine, Lipid, Hydrate
Carbure, Calcium, Phospho, sắt, Cyanhydride, Caseinase (Trung Dược Học).
+ Trong Bạch biển đậu có Tinh dầu 0,62%, Palmitic
acid 8,33%, Linoleic acid 57,95%, Elaidc acid 15,05%, Behenic acid
10,40%, Oleic acid 5,65%,Stearic acid 11,26%, Arachidic acid 0,58% (Kasmiri
M và cộng sự C A, 1990, 112: 234162n), Trigonelline (Kaushik P và cộng
sự, C A, 1991, 114: 139760p), Methionine, Leucine, Threonine (Laurena
Antonio C và cộng sự, C A, 1991, 115, 70130j), Vitamin B1, Carotene,
Sucrose, Gucose, Stachyose, Maltose, Raffinose (Ayako Matsushita, C A,
1968, 68: 66373j), L-2- Pipecolic acid (Jaffe Werner G. C A 1969, 70:
103213w), Phytoagglutinin (Kaushik P và cộng sự, C A, 1991, 115:
78713x).
+ Hạt chưa chín của Đậu váng trắng chứa một số hợp
chất điều tiết sinh trưởng là Dolicholid, Dolichosteron, Homodolicholid,
Homodolichosteron Brassinolid, Castasteron, 6-Deoxycastasteron,] 6-
Deoxy Dolichosteron (Dược Liệu Việt Nam).
Hạt còn chứa một hỗn hợp Polysacharid bao gồm chủ
yếu Galactosyl - Arabinose và Galactose (Dược Liệu Việt Nam).
Tác Dụng Dược Lý:
+ Kháng Vi Sinh Vật: 100% dịch chiết Bạch biển đậu
có tác dụng ức chế khuẩn lỵ. Dùng dịch chiết chích cho chuột nhắt trắng
cho thấy chất SK (Đa lựu) có tác dụng kháng lỵ độc (Trung Dược Dược Lý
Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Giải Độc: Có tác dụng chống bị ngộ độc thức ăn
mà sinh ra nôn mửa, dạ dày viêm cấp và ruột viêm cấp tính. Giải độc
rượu, trúng độc cá Nóc [Hà Đồn] (Trung Dược Dược Lý Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
Tính vị:
- Vị ngọt, tính hơi ấm (Biệt Lục).
- Tính hơi hàn (Thực Liệu Bản Thảo).
- Tính bình, không độc (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Vị ngọt, tính hơi ấm (Trung Hoa Nhân Dân Cộng
Hòa Quốc Dược Điển).
- Vị ngọt, tính hơi ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Quy Kinh:
. Vào thái âm, phần khí (Bản Thảo Cương Mục).
. Vào kinh rúc Thái âm Tỳ, túc Dương minh Vị, phần
khí (Bản Thảo Kinh Sơ).
. Vào kinh Tỳ và Vị ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa
Quốc Dược Điển).
Tham khảo:
- Đậu ván thuộc dương, nó vào 3 kinh Tỳ, Vị và
Phế, có vị ngọt tính bình nhưng không đến nỗi ngọt quá, khí thanh hương
nhưng không đến nỗi làm bại thanh khí. Tính ôn hòa mà sắc hơi vàng, nó
rất hợp với Tùng kinh (Giả Cửu Như).
- Đậu ván vị ngọt hợp với Tỳ nên có chất bổ Tỳ,
Tỳ có tính thích khí thơm, đậu ván có khí thơm làm cho Tỳ khí được thư
thái. Tỳ không ưa chất ướt, đậu ván khí ấm làm cho Tỳ khô táo, bởi thế
mà lưu thông đường thủy đạo nên chữa tả, chữa khát là vì thế, nếu dùng
nhiều sẽ nê trệ, đầy hơi (Bách Hợp).
- Bàn về Bạch biển đậu an thai, chủng tử, Trần Sĩ
Đạc viết: Hoặc nói là Bạch biển đậu là thuốc cố thai, người xưa lại
dùng để an thai là tại sao? Thai động không yên là do khí không yên,
Bạch biển đậu thiên về hòa trung vì vậy dùng nó đẻ hòa thai khí, thai
điều hòa thì yên, tức là nói đến công năng an thai vậy (Bản Thảo Tân
Biên).
- Hạt sao vàng bổ tỳ; Hoa giải nhiệt trị cảm mạo
mùa hè, kiết lỵ, bụng đói, giải độc rượu; Vỏ quả trị sôi bụng, nôn mửa
cuối hè (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
1) Ngoài cho hạt ra, Bạch biển đậu còn cho lá gọi
là Bạch biển đậu diệp dùng để trị thổ tả, đâm nát rịt vào chỗ rắn cắn.
Cho dây gọi là Bạch biển đậu đằng. Dùng chung với Lô thác (Cây cỏ lau),
Nhân sâm, Trần thương mễ, các vị bằng nhau, sắc uống, trị dịch tả. Cho
hoa gọi là Bạch biển đậu hoa, đặc biệt hoa nào sắc trắng thì sau cho hạt
cũng trắng gọi là Bạch biển đậu thì có tính hơi ấm, còn hoa màu tía thì
vỏ nó xanh mà hạt đen gọi là Thước đậu có tính hơi lạnh có tác dụng chữa
xích bạch đới của phụ nữ, lấy hoa sấy khô tán bột dùng với nước cơm. Có
khi người ta dùng hoa sắc uống với lá Hoắc hương (tươi) trị tiêu chảy,
tức ngực, lợm mửa do trúng thử (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
2) Từ hạt Bạch biển đậu có thể chế ra các vị thuốc
sau: Biển đậu y (Testa Dolichoris) là vỏ hạt của hạt đậu ván, Biển đậu
nhân là nhân của hạt đậu ván chế bằng cách ngâm đậu ván vào nước cho vỏ
nứt và phồng lên, đãi lấy nhân phơi riêng, vỏ phơi riêng. Đậu ván sao
vàng đen gọi là Bạch biển đậu sao, thường dùng nấu nước trộn đường uống
để giải khát” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
3) Bạch biển đậu khí hơi thấp không độc, mùi khi
sống hơi tanh nhưng sao vàng thì thơm, có tính ấm bình, dùng nó rất bổ,
là một vị thuốc trung hòa, đó cũng là một thứ ngũ cốc nuôi tỳ khí. Nó
vào ngay khí phận của Thái âm, thông lợi được Tam tiêu, điều hòa được
các khí bên trong, và trừ khử được trọc khí, nên nó đặc trị với những
chứng bệnh ở trung cung (Tỳ Vị) chữa được những chứng trúng nắng, trừ
được mọi chứng thấp, giải các thứ độc, hoắc loạn thổ tả, nôn mửa, đó là
những căn bệnh mà nó có sở trường chữa được. Đậu ván còn làm cho tiêu
được nhiệt độc của nắng vì tính nó làm hòa được tỳ vị, bổ ngũ tạng, chữa
phụ nữ bị thứ trắng, đó chính là tác dụng trừ thấp vậy. Tính của Đậu ván
còn giải được độc của rượu, độc cá nóc và tất cả các loại độc của cây cỏ,
khi dùng có thể nhai sống hoặc tán sống với nước lạnh uống nước cốt là
giải được tất cả (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- “ Biển đậu vị ngọt, bổ Tỳ hòa Vị mà không đầy
trệ, tính lại hơi ôn, thơm, hóa thấp nhưng không táo, nóng. Bổ Tỳ mà
không đầy, hoa thấp mà không táo. Đối với Tỳ Vị hư mà có thấp hoặc sau
khi ốm nặng dậy, bắt đầu cho uống thuốc bổ thì nên dùng Biển đậu trước
là thích hợp nhất, có thể điều dưỡng được chính khí mà không bị đầy
trệ. - Biển đậu thiên về bổ Tỳ Vị, hoa Biển đậu thiên về thanh thử tán
tà, là vị thuốc hay dùng để giải thử (Đông Dược Học Thiết Yếu).
“ Quả non đậu váng trắng là nguồn thực phẩm quý,
món ăn giầu chất bổ, quả gìa cho hạt làm thuốc. Đậu ván trắng có tác
dụng hạ sốt, kiện Vị (Stomachic), giải co thắt cơ (giải cơ), kích thích
sinh dục [Aphrodisiac] . Đặc biệt vị thuốc này dùng cho trẻ em rất
tốt”(Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Bạch biển đậu, Tác dụng
Bạch biển đậu, Bạch biển đậu vị thuốc quí, Bạch biển đậu và sức khỏe, cách dùng Bạch biển đậu, mua
Bạch biển đậu, nơi bán Bạch biển đậu, mua bán Bạch biển đậu, giá cả Bạch biển đậu, công năng Bạch biển đậu,
nơi mua bach bien dau, bach bien dau, tac dung cua bach bien dau, bach bien dau vi thuoc qui, bach bien dau
và suc khoe, cach dung bach bien dau, mua bach bien dau, noi ban bach bien dau, mua ban
bach bien dau, gia ca bach bien dau, cong nang bach bien dau, nơi mua bach bien dau, bachbiendau, tac dung
bachbiendau, baithuoc co bachbiendau, cach dung bachbiendau, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP