Vị thuốc A giao còn gọi A giao nhân,
A tỉnh giao, A tỉnh lư bì giao,
Bồ
hoàng sao A giao (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển),Bì giao,
Bồn giao,
Hiển minh bả, Ô giao,
Phó tri giao, Phú bồn giao (Hòa Hán Dược Khảo), Cáp sao a giao, Châu a giao,
Hắc lư bì giao, Sao a giao,
Sao a giao châu,
Thanh a giao, Thượng a giao,
Trần a giao (Đông Dược học Thiết Yếu), Lư
bì giao (Thiên Kim).
Tác Dụng, Chủ Trị:
+ Ích khí, an
thai.Trị lưng, bụng đau, tay chân đau nhức, lao nhọc gây ra chứng giống
như sốt rét, rong huyết, mất ngủ (Bản Kinh).
+ Dưỡng Can khí. Trị bụng dưới đau, hư lao, gầy ốm,
âm khí không đủ, chân đau không đứng được (Biệt Lục).
+ Làm mạnh gân xương, ích khí, chỉ lỵ (Dược Tính
Luận).
+ Trị đại phong (Thiên Kim).
+ Tiêu tích.Trị các chứng phong độc, khớp xương
đau nhức, giải độc rượu
(Thực Liệu Bản Thảo).
+ Trị các chứng phong, mũi chảy nước, nôn ra máu,
tiêu ra máu, lỵ ra máu, băng trung, đới hạ (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Hòa huyết, tư âm, trừ phong, nhuận táo, lợi tiểu
tiện, điều đại trường. Trị nôn ra máu, chảy máu cam, tiểu buốt, tiểu ra
máu, tiêu ra máu, lỵ, phụ nữ bị các chứng về huyết gây ra đau, huyết khô,
kinh nguyệt không đều, không có con, đới hạ, các chứng trước khi có thai
và sau khi sinh, khớp xương đau nhức, phù thũng, hư lao, ho suyễn cấp,
ho khạc ra máu, ung nhọt thủng độc (Bản Thảo Cương Mục).
+ Làm mạnh gân cơ, sáp tinh, cố Thận. Trị lưng đau
do nội thương (Bản Thảo Cương Mục Thập Di).
+Tư âm, bổ huyết, an thai (Trung Dược Đại Từ Điển).
+Tư âm, dưỡng huyết, nhuận phế, chỉ huyết (cầm máu),
an thai (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
Liều Dùng:
Ngày dùng 8 - 24g, uống với rượu hoặc cho vào
thuốc hoàn, tán.
Kiêng Kỵ :
+ Kỵ dùng
chung với vị Đại hoàng (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+Vị (bao tử) yếu, nôn mửa: không dùng. Tỳ Vị hư,
ăn uống không tiêu không nên dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
+Vị hư, nôn mửa, có hàn đàm, lưu ẩm, không nên
dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).
+Tiêu chảy không nên dùng (Bản Thảo Bị Yếu).
+ Ngưòi tỳ vị hư yếu (tiêu chảy, ói mửa, tiêu hóa
kém...) không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Rêu lưỡi béo bệu, ăn không tiêu, tiêu chảy:
không dùng (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
- Phương Thuốc Kinh Nghiệm:
* Về Huyết:
+ Trị Nôn ra máu không cầm: A giao (sao) 80g, Bồ
hoàng 40g, Sinh địa 120g. Sắc với 600ml nước còn 200ml, chia làm 2 lần
uống (Thiên Kim Dực Phương).
+ Trị ho ra máu: A giao (sao) 12g, Mộc hương 4g,
Gạo nếp 40g. Tán bột, ngày uống 3 lần mỗi lần 4g.
(Phổ Tế phương).
+ Trị có thai ra máu:
1- A giao sao vàng,tán nhỏ. Ngày uống 16g với nước
cháo, trước bữa ăn (Thánh Huệ phương) .
2- A giao 120g, sao, sắc với 200ml rượu cho tan
ra rồi uống (Mai sư phương).
+ Trị kinh nguyệt máu ra nhiều:
1- A giao sao vàng. Ngày uống 16g với rượu (Bí Uẩn
Phương).
- A giao, Đương quy, Bạch thược, Sinh địa, Cam
thảo, Xuyên khung, Ngải diệp. Các vị thuốc sau khi sắc xong, lọc bỏ bã
rồi mới cho A giao vào, quấy đều uống (Giao Ngải Thang - Kim Quỹ Yếu
Lược).
+ Trị nôn ra máu: A giao (sao với Cáp phấn) 40g,
thêm 2g Thần sa, tán bột. Uống chung với nước cốt Ngó sen và Mật ong (Nghiệm
phương).
+ Trị nôn ra máu, Mũi chảy máu, Tai ra máu: A
giao,sao chung với 20g Bồ hoàng. Ngày uống 2 lần mỗi lần dùng 8g pha với
200ml nước và 200ml nước cốt Sinh Địa, uống (Thánh Huệ phương).
* Về Hô Hấp:
+ Trị ho lâu ngày:
1- A giao (sao)40g, Nhân sâm 80g, Tán bột. Mỗi lần
dùng 12g uống với nước sắc Thông bạch (A Giao Ẩm - Thánh Tế Tổng Lục).
2- A giao (chưng cách thủy )12g, Mã đâu linh 8g,
Ngưu bàng tử 8g, Hạnh nhân 12g, Nhu mễ 16g, Cam thảo 4g. Sắc uống (Bổ
Phế A Giao Thang - Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị suyễn (do phong tà nhập Phế): A giao (loại
tốt), sao. Dùng Tử tô và Ô mai, sao, tán bột, sắc uống (Nhân Trai Trực
Chỉ phương).
+ Trị trẻ nhỏ Phế bị hư, khí suyễn: A giao 40g (sao),
Thử niêm tử (sao thơm) 10g, Mã đâu linh (sấy) 20g, Hạnh nhân (bỏ vỏ,
đầu nhọn, sao) 7 hột, Cam thảo (nướng) 10g, Gạo nếp (sao) 40g. Tán bột.
Mỗi lần dùng 8g, sắc uống ấm (A Giao Tán - Tiểu Nhi Dược Chứng Trực
Quyết).
* Về Thai-Sản .
+ Tri có thai mà bụng đau, hạ lỵ: Hoàng liên 120g,
Thạch lựu bì 120g, Đương quy 120g, A giao (nướng) 80g, Ngải diệp 60g .
Sắc uống (Kinh Hiệu Sản Bảo).
+ Trị thai động không yên: A giao 80g, Ngải diệp
80g, Thông bạch 20g, nước 800ml, sắc còn 200ml chia 2 lần uống ( Sản
Bảo phương).
+ Trị hai động làm tiểu són, trong người bứt rứt:
A giao 120g, sắc với 400ml nước còn 80ml, uống nóng (Thiên Kim).
* Về Tiêu Hóa.
+ Trị táo Bón (nơi người lớn tuổi, hư yếu): A giao
(sao) 8g, Thông bạch 12g, Sắc chung với rượu cho tan ra, thêm 8ml mật
ong vào uống nóng (Trực Chỉ phương).
+ Trị khí ở trường vị bị hư: A giao 80g, Hoàng
liên (sao) 120g, Phục linh 80g. Tán bột, làm viên, ngày uống 12 - 16g
(Hòa Tễ Cục phương)
* Về Gân Cơ.
+ Trị gân cơ co quắp, tay chân run giật (do nhiệt
làm tổn thương tân dịch): A giao 12g, Bạch thược (sống) 12g, Thạch
quyết minh 12g, Câu đằng 12g, Sinh địa 16g, Phục thần 12g, Lạc thạch
đằng 12g, Mẫu lệ (sống) 16g. Trừ A giao, các vị thuốc sắc, lọc bỏ bã,
thêm A giao vào cho chảy ra, rồi cho Kê tử hoàng 1 trái vào, quấy đều,
uống nóng (A Giao Kê Tử Hoàng Thang - Thông Tục Thương Hàn Luận).
+ Trị lao phổi, ho ra máu: dùng A giao tán bột mịn,
mỗi lần uống 20-30g, ngày 2-3 lần với nước sôi ấm hoặc sắc nấu thành hồ
uống. Trường hợp ho ra nhiều máu không cầm, cho tiêm Pituitrin 5-10 đơn
vị hoặc các loại thuốc Tây cầm máu khác cho ho ra máu bớt đi rồi dùng A
giao uống. Trường hợp ho ra máu ít và vừa, chỉ dùng A giao cầm máu. Có
kết hợp thuốc chống lao. Trị 56 ca, kết quả tốt 37 ca, có kết quả 15 ca,
không kết quả 4 ca, tỷ lệ có kết quả 92,7% (Trương Tâm Như, A Giao Điều
Trị 56 Ca Lao Phổi, Ho Ra Máu, Liêu Ninh Tạp Chí Trung Y 1987, 9: 39).
+ Trị xuất huyết tử cung cơ năng: A giao là vị
thuốc thường dùng, thường kết hợp với bài Tứ Vật Thang, dùng bài Giao
Ngải Tứ Vật Thang: A giao 20g (hòa tan), Ngải diệp 20g, Đương qui 16g,
Thụcđịa 20g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 12g, Chích thảo 4g, sắc uống.
Tùy chứng có thể gia giảm(Giao Ngải Tứ Vật Thang - Kim Qũy Yếu Lược).
+ Trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, huyết hư tâm
phiền, mạch Tế Sác: A giao 20g (hòa tan), Hoàng ìiên 8g, Hoàng cầm 8g,
Bạch thược 8g, sắc nước uống, gia thêm lòng đỏ trứng gà (Kê Tử Hoàng) 2
cái, khuấy đều, chia 2 lần, uống nóng trong ngày (Hoàng Liên A Giao
Thang - Thương Hàn Luận).
+ Trị chứng âm hư co giật: thường gặp trong các
bệnh di chứng não, di chứng màng não, động kinh thể âm huyết hư:: A giao,
Bạch thược (sống), Thạch quyết minh, Câu đằng, Phục thần, mỗi thứ 12g,
Sinh địa, Mẫu lệ (sống), Qui bản, mỗì thứ 16g. A giao, Kê tử hoàng (để
riêng), các thuốc khác sắc lấy nước, bỏ bã, lúc nước đang sôi, cho A
giao rồi cho Kê tử hoàng vào, khuấy đều uống lúc còn nóng (A Giao Kê Tử
Hoàng Thang – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị cẳng chân loét (mạn tính): Rửa vô trùng vùng
loét, chiếu tia hồng ngoại 10-15 phút, cho A giao vào l chén đổ 70ml
nước, sắc nhỏ lửa cho thành cao rồi phết cao vào miếng gạc độ 2-3g, tùy
diện tích to nhỏ của vết loét, mỗi ngày đắp l lần, thường khoảng 20 lần
là khỏi. Đã trị 24 ca đều khỏi (Duẫn Hồng Như và cộng sự, Dùng Tia Hồng
Ngoại Kết Hợp A Giao Trị Loét Cẳng Chân 24 Ca, Tạp Chí Trung Tây Y Kết
Hợp 1987, 4: 24).
+ Trị chứng bạch cầu giảm và thiếu máu nhược sắc:
dùng cao lỏng A giao (A giao, Nhân sâm, Thục địa, Đảng sâm, Sơn tra...),
có tác dụng tăng bạch cầu, bổ huyết và tăng miễn dịch. Đã trị bạch cầu
giảm 179 ca, tỷ lệ kết quả 79,33%, thiếu máu nhược sắc 230 ca, tỷ lệ kết
quả 6',8% (Lý Thượng Ngọc, Kết Quả Nghiên Cứu A Giao, Báo Công Nghiệp
Sơn Đông, 1986, 3: 21).
+ Trị động thai: Thuốc có tác dụng an thai. Dùng A
giao 12g, Trứng gà 2 quả, đường đỏ 30g. Trị 36 ca, khỏi 30 ca, tỷ lệ
khỏi 83,3% (Vương Tâm Hảo, Tự Chế A Giao Kê Tử Hoàng Thang Trị Động
Thai, Hoạt Thai, báo Trung Y Sơn Tây 1987, 2: 35).
Tìm hiểu sâu thêm về A giao:
Tên Khoa Học:
Colta Asini, Gelantinum Asini, Gelantina Nigra.
- Mô Tả: A giao là keo chế từ da con lừa (Equus
Asinus L.). Thường A giao được làm dưới dạng miếng keo hình chữ nhật,
dài 6cm, rộng 4cm, dầy 0,5cm, mầu nâu đen, bóng, nhẵn và cứng. Khi trời
nóng thì mềm, dẻo, trời khô thì dòn, dễ vỡ, trời ẩm thì hơi mềm. Mỗi
miếng nặng khoảng 20g. vết cắt nhẵn, mầu nâu đen hoặc đen, bóng, dính (Dược
Tài Học).
Bào Chế:
a - Theo
Trung Quốc.
* Chọn loại da gìa, dầy, lông đen. Vào mùa đông -
xuân (khoảng tháng 2 -3 hàng năm, lấy da lừa ngâm vào nước 2-5 ngày cho
mềm ra rồi cạo lông, cắt thành từng miếng mỏng (để nấu cho dễ tan) . Nấu
3 ngày 3 đêm, lấy nước cũ ra, thay nước mới, làm như vậy 5-6 lần để lấy
hết chất keo của da lừa. Lọc qua rây bằng đồng có lỗ nhỏ rồi khuấy với
nước lọc có ít phèn chua, chờ vài giờ sau cho các tạp chất lắng xuống,
gạn lấy 1 lớp nước trong ở trên và cô đặc lại. Trước khi lấy ra chừng 2
giờ thì thêm đường và rượu vào (cứ 600g da lừa thêm 4 lít rượu và 9kg
đường), nửa giờ trước khi lấy ra lại thêm dầu đậu nành cho đỡ dính
(600kg thêm 1kg dầu). Đổ ra,để nguội, cắt thành phiến dài 10cm, rộng
4-4.5cm, dầy 0.8 - 1.6cm (Trung Dược Đại Từ Điển).
* Sao Với Cáp
Phấn: Lấy chừng 1kg bột Cáp phấn cho vào chảo rang cho nóng rồi bỏ các
miếng A giao vào rang cho đến khi A giao nở dòn không còn chỗ cứng nữa
thì dùng rây ray bỏ bột Cáp phấn đi (Trung Dược Đại Từ Điển).
* Sao Với Bồ
Hoàng: Cho Bồ hoàng vào chảo, rang nóng rồi cho A giao xắt mỏng
vào, rang cho đến khi A giao nở dòn thì bỏ Bồ hoàng đi (Trung Dược
Đại Từ Điển).
* Ngâm với
rượu hoặc nấu với nước cho tan ra (Đông Dược Học Thiết Yếu).
b-
Theo Việt Nam:
Lấy khăn vải sạch lau cho hết bẩn, thái nhỏ bằng
hạt bắp, cho vào chảo, sao với bột Cáp phấn hoặc Mẫu lệ (20%) cho phồng
đều (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
Thành Phần Hóa Học:
+ Trong A
giao chủ yếu là chất keo (Collagen). Khi thủy phân Collagen sẽ cho ra
các Axit Amin bao gồm: Lysin 10%, Acginin 7%, Histidin 2%, Xystin
2%, Glycin 2%. Lượng Nitơ toàn phần là 16.43 - 16.54% , Can xi
0.079 - 0,118%, Sunfua 1,10 - 2,31%, độ tro 0,75 - 1,09% (Trung
Dược Đại Từ Điển).
1+ Tác Dụng
Tạo Máu: Rút máu của chó để gây thiếu máu rồi chia làm 2 lô, 1 lô dùng A
giao, 1 lô không dùng A giao. Lô dùng A giao: dùng dung dịch A giao
(30g/ 1 lít) rót vào bao tử chó. Sau đó xét nghiệm hồng cầu và các
yếu tố khác của máu thấy A giao làm tăng nhanh lượng hồng cầu và các sắc
tố của máu (Trung Dược Đại Từ Điển).
2+ Tác Dụng
Đối Với Chứng Loạn Dưỡng Cơ Dần Dần: Cho chuột bạch ăn theo 1 chế độ đặc
biệt để gây loạn dưỡng cơ dần dần: nhẹ thì què, nặng thì tê liệt không
đi đứng được . Sau đó cho ăn dung dịch A giao thì sau hơn 100 ngày, đa
số các con vật hết các triệu chứng tê liệt (Trung Dược Đại Từ Điển).
3- Tác Dụng
Chống Choáng: Gây choáng đối với mèo rồi dùng dung dịch A giao 5%
thêm muối (để gây đẳng trương và kiềm hóa), lọc, nấu sôi khoảng 30-40
phút, đợi nhiệt độ hạ xuống 38o thì tiêm từ từ vào tĩnh mạch thấy
huyết áp trở lại bình thường và con vật được cứu sống (Trung Dược Đại Từ
Điển).
4- Ảnh Hưởng
Chuyển Hoá Đối Với Chất Canxi: Cho chó uống dung dịch A giao đồng thời
cho ăn Canxi Carbonat, thấy lượng Can xi trong huyết thanh tăng cao. Cho
uống dung dịch A giao khả năng đông máu không tăng nhưng nếu tiêm dung
dịch 5% A giao đã tiệt trùng thì khả năng đông máu tăng (Trung Dược Đại
Từ Điển).
5- Tác Dụng
Chống Ngất: Tinh chất A giao chế thành dịch có tác dụng chống chảy máu,
ngất. Tiêm 5-6% dung dịch A giao (8ml/kg) có tác dụng làm cho huyết áp
thấp tăng lên (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
6- Tác
dụngchuyển hóa tế bào Lympho: A giao có tác dụng chuyển hóa tế bào
Lympho. A giao dùng chung với bài Phúc Phương Nhân Sâm Thanh Phế Thang
có tác dụng nâng cao sự chuyển hóa tế bào Lympho nơi người bị mụn nhọt
sưng (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Tác dụng
cầm máu: Có thể do tác dụng tăng Canxi máu, giữ được sự cân bằng eủa
Canxi (Trung Dược văn Kiện Trích Yếu 1965, (304) nhưng chỉ với chảy máu
nhẹ, không có tác dụng đối với chảy máu nặng (Trung Dược Ứng Dụng
Lâm Sàng).
+ A giao có
tác dụng chuyển dạng Lympho bào đối với nguời khỏe (Trung Dược Học)
+ Cho chó
uống A giao làm cho Canxi huyết thanh tăng trên 10% nhưng thời gian
máu đông
không thay đổi. Nếu tiêm dung dịch 5% A giao đã tiệt trùng thì khả năng
đông máu tăng (Trung Dược Học).
+ A giao cũng
có tác dụng nhuận trường (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
Tính Vị:
+ Vị ngọt, tính bình
(Bản Kinh).
+Vị hơi ấm, không độc (Biệt Lục).
+Vị nhạt tính bình (Y Học Khải Nguyên) .
+ Vị ngọt, cay, tính bình (Thang Dịch Bản Thảo).
Quy Kinh:
+Vào kinh Thủ Thái dương Tam tiêu, Túc Thiếu âm
Thận và Túc Quyết âm Can (Thang Dịch Bản Thảo).
+Vào kinh Thủ Thiếu âm Tâm, Túc Thiếu âm Thận và
Túc Quyết âm Can (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Vào kinh Can, Phế, Thận, Tâm (Bản Thảo Cầu Chân).
+Vào 3 kinh Can, Phế, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).
Tham Khảo:
+“A Tỉnh, nay ở 30 dặm về phía Đông-Bắc huyện
Dương Cốc, phủ Đoài Châu tỉnh Sơn Đông (huyện Đông A xưa) nơi đó là cấm
địa của quan ở. Ly Đạo Nguyên trong ‘Thủy Kinh Chú ‘ ghi: “Huyện Đông A
có cái giếng to như bánh xe ngựa, sâu hơn 20 mét, hàng năm lấy nước
giếng đó nấu cao dâng cho triều đình. Nước trong giếng này bắt nguồn từ
sông Tế chảy xuống, lấy nước này nấu cao. Khi quậy, nước (đang) trọc
đục thì trong lại, vì vậy dùng vào việc thông quan cách, làm cho tiêu
đờm, cầm nôn mửa. Vì nước sông Tế trong mà nặng, tính của nó hướng
xuống, do đó chữa được ứ đọng, bẩn đục và đờm nghịch đi lên vậy “ (Bản
Thảo Cương Mục).
+“Nay tại tỉnh Sơn Đông cũng làm được như vậy.
Loại da xử dụng có loại gìa loại non, loại cao thì có loại thanh loại
trọc. Khi nấu phải bỏ vào 1 miêng sừng hươu (Lộc giác) thì sẽ thành được
keo, nếu không làm như vậy thì không được .Về cao có 3 loại:
+ Loại trong mà mỏng là loại các họa sĩ thường
dùng .
+ Loại trong mà dầy gọi là Phúc Bồn Giao
2 loại này thường dùng làm thuốc.
+ Loại trọc đục mà đen thì không dùng làm thuốc
nhưng có thể làm keo dán dụng cụ” (Thực liệu bản thảo).
+“...Ngày nay các nhà bào chế thuốc dùng Hoàng
minh giao, đa số là da trâu, bò. A giao trong ‘Bản Kinh’ cũng là da
trâu,bò. Dù là da lừa hoặc trâu bò đều có thể dùng được . Nhưng hiện
nay cách chế da trâu bò không được tinh xảo nên chỉ dùng vào việc dán
dụng cụ... không thể dùng vào việc làm thuốc được . Trần Tàng Khí nói
rằng:” Các loại ‘giao’ đều có thể chữaphong,cầm tiết, bổ hư vì vậy cao
da lừa chuyên chữavề phong là vậy”. Đây là điều cho thấy rằng A giao hơn
các loại cao khác vậy - Chác Nhai nhận định: “Nghe nói cách chế keo
ngày xưa là trước tiên lấy nước ở khe suối tên Lang ( Lang Khê) ngâm da
sau đó lấy nước giếng A Tỉnh nấu thành cao. Lang Khê phát nguồn từ suối
Hồng Phạm, tính nó thuộc Dương, còn nước giếng A Tỉnh thuộc Âm, ý là
lấy Âm Dương phối hợp với nhau. Dùng lửa cây dâu tằm luyện thành cao,
sau 4 ngày 4 đêm thì thành A giao. Lại nói rằng người dùng A giao kỵ
nhất là rượu, nên cố gắng phòng tránh . Đây là điều người xưa chưa từng
nói, vì vậy ghi lại để biết vậy - Vị A giao chủ yếu bổ huyết dịch, vì
vậy nó có khả năng thanh phế, ích âm, chữa được các chứng bệnh. Trần -Tự-Minh
cho rằng:” Bổ hư thì dùng Ngưu bì giao, trừ phong thì dùng Lư bì giao (keo
da lừa)”. Thành-Vô-Kỷ lại cho rằng:”Phần âm bị bất túc thì bổ bằng
thuốc có vị đậm đặc, vị ngọt của A giao để bổ âm huyết”. Dương Sĩ Doanh
cho rằng: “Hễ trị chứng ho suyễn, bất luận Phế bị hư hoặc thực, nếu
dùng phép hạ hoặc phép ôn đều phải dùng đến A giao để an và nhuận Phế.
Tính của A giao bình hòa,là thuốc cần thiết cho kinh Phế. Trẻ nhỏ sau
khi bị động kinh, cơ thể co rút, dùng A giao, tăng gấp đôi vị Nhân Sâm
sắc uống là tốt nhất (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
+“ Giếng A Tỉnh là con mắt của sông Tế Thủy. Sách
Nội Kinh cho rằng Tế Thủy cũng như cái gan của trời đất cho nên phần
nhiều có công dụng nhập vào tạng Can. Da con lừa mầu đen, mầu sắc hợp
với hành Thủy ở phương Bắc, là giống vật hiền lành mà đi khỏe, cho nên
nhập vào Thận cũng nhiều. Khi Thận thủy đầy đủ thì tự nhiên chế được hỏa,
hỏa tắt thì không sinh ra phong, cho nên chứng Mộc vượng làm động phong,
tâm hỏa thịnh, Phế kim suy, không gì là không thấy kiến hiệu. Lại nói: A
giao thứ thật khó mà có được thì dùng Hoàng Minh Ngưu Giao, nhưng da
trâu thường chế không đúng phép, mình tự chế lấy thì tốt. Khi nấu phải
cho vào 1 miếng gạc hươu, nếu không thì không thành cao. Cao da trâu gọi
là Ngưu Bì Giao hoặc Thủy Giao, có tác dụng nhuận táo, lợi đại tiểu
trường, là thuốc chủ yếu để chữa đau, hoạt huyết của ngoại khoa, trị tất
cả các chứng về huyết của nam và nữ. Mọi thứ cao đều bổ huyết, dưỡng hư,
mà A giao lại là da lừa đen nấu thành với nước giếng A Tỉnh, tức là
nước sông Tế Thủy ngâm vào, mầu sắc chính biếc, tính thì chạy xuống gấp,
trong mà lại nặng, hoàn toàn âm tính, rất khác với nước ở các sông khác,
do đó càng có khả năng để nhuận Phế, dưỡng Can và tư bổ Thận” (Dược
Phẩm Vậng Yếu)
+ “ A giao là vị thuốc phải gia công chế biến .
Dùng da lừa đen, lấy nước giếng Đông A ở tỉnh Sơn Đông nấu thành cao để
chữa ho lao, là vị thuốc chủ yếu chỉ (cầm) huyết của các chứng về huyết.
Dùng loại trong, sáng, dòn, không tanh hôi, không mềm nhũn là tốt. Khi
dùng vị thuốc này phải làm cho chảy ra rồi hòa với thuốc khác mà uống,
không nên sắc chung với các vị thuốc khác vì sắc nó khó tan ra nước cốt,
hiệu quả điều trị không cao” (Đông Dược Học Thiết Yếu)
+ “A giao gặp được lửa rất tốt” (Bản Thảo Kinh Tập
Chú).
+”A giao có Thự Dự (Hoài Sơn) làm sứ thì tốt (
Dược Tính Luận)
+” Thứ keo nấu bằng da lừa loại tốt được gọi là
‘Cống Giao’ (dùng để cống cho nhà vua) còn thứ nấu bằng da trâu, bò gọi
là Minh Giao (Phương Bào Chế Đông Dược Việt Nam).
+A giao và Lộc giác giao là những vị thuốc đại bổ,
rất có liên hệ với huyết. Cả 2 đều có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, chỉ
huyết. Nhưng A giao vị ngọt, tính bình thiên về bổ huyết, chỉ huyết.
Kiêm tư Phế, an thai, cầm huyết hư ra nhiều. Còn Lộc giác giao vị ngọt,
mặn, tính ấm, thiên về ôn bổ Can,Thận, cố tinh. Phần hỏa suy nhiều phải
dùng Lộc giác giao” (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê).
+ Thục địa và A giao có tác dụng tư âm, bổ huyết
nhưng Thục địa thiên về bổ Thận âm, trấn tinh tủy mà bổ huyết còn A giao
thiên về nhuận Phế, dưỡng Can, bổ huyết mà tư âm, chỉ huyết. Hễ âm hư,
bất túc thì hư hỏa bốc lên gây ra hư phiền, mất ngủ, thai động không yên,
dễ bị xẩy thai. Dùng bài Tứ Vật Thang Gia Vị trị 19 trường hợp dọa xẩy
thai đạt kết quả tốt. Bài thuốc dùng: A giao, Ngải diệp, Bạch thược,
Đương quy, Cam thảo, Xuyên khung, Thục địa (tức là bài Tứ Vật Thang thêm
A giao, Cam thảo, Ngải diệp). Tùy chứng gia giảm thêm (Trung Dược Dược
Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ A giao có đầy đủ tác dụng dưỡng âm, bổ huyết và
nhuận Phế, chỉ khái. Lại do chất keo
dính, béo, có thể ngưng cố huyết lạc cho nên tốt
về chỉ huyết. Thường dùng trong các chứng thổ huyết, chảy máu cam, tiêu
ra huyết, cũng như phụ nữ bị băng huyết, lậu huyết. A giao có thể nhuận
Phế, chỉ khái lại trị ho ra máu, cho nên nó là thuốc chính để trị phế
lao. A giao không những dùng cho nội thương mà còn dùng cho những trường
hợp sau khi bị nhiệt bệnh như tâm phiền, mất ngủ do nhiệt làm tổn thương
phần âm huyết, có thể dùng chung với thuốc thanh nhiệt. Trường hợp bệnh
âm dịch hao tổn, huyết hư sinh phong thì có thể dùng chung với thuốc tức
phong, trấn kinh, thanh nhiệt. Vị này dùng sống hoặc sao đều có công
dụng chỉ huyết, bổ huyết. Chỉ có dùng sống thì công hiệu tư âm mới tốt,
dùng sao thì công dụng chỉ huyết mới mạnh (Thực Dụng Trung Y Học).
A giao
, vị thuốc A giao
, Tác dụng của A giao
, thành phần của A giao
, cách dùng A giao
, liều dùng A giao
, công dụng A giao
, Tác dụng A giao
, cách sử dụng A giao
, A giao
và sức khỏe, Nơi mua A giao
, mua bán A giao
, giá mua A giao
, cây A giao
, thuốc A giao
, quả A giao
, lá A giao
, rễ A giao
, hoa A giao
, A giao
chữa bệnh, A giao
chữa bệnh gì?
agiao
, tac dung agiao
, thanh phan agiao
, cach dung agiao
, cong dung agiao
, agiao
va suc khoe, noi mua agiao
, mua ban agiao
, gia mua agiao
, vi thuoc agiao
, cay agiao
, thuoc agiao
, quả agiao
, lá agiao
, rễ agiao
, hoa agiao
, agiao
chua benh, agiao
chua benh gi? Thuốc Đông y, đông y chữa bệnh mãn tính, chữa bệnh bằng thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y, dong y chua benh, chua benh bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược, phòng khám, phòng khám nguyễn hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám online, dong y, đông y gia truyền, phòng khám gia truyền, phong kham nguyen huu toan, phong kham dong y, phong kham gia truyen,đau thần kinh, đau thần kinh tọa, đau đầu, dau, dau xuong, dau khop, dau than kinh, dau than kinh toa, dau dau,viem tuyen vu, viem than, viem gan, viem hong, viem xoang, mau, benhmau, thuocchuabenhmau, chuamau, chuabenhmau, thuocmau, thuocchuamau
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP