+Bình Can, tức phong, thanh nhiệt, minh mục,
tán huyết, giải độc (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).
+Bình Can, tức phong, thanh nhiệt, trấn kinh (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
Chủ trị:
+Trị sốt cao, kinh giật, hôn mê, kinh quyết,
sản giật, điên cuồng, đầu đau, chóng mặt, mắt sưng đỏ đau, ôn độc phát ban, ung
nhọt (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).
+Trị sốt cao, co giật, kinh phong, động kinh,
mắt sưng đỏ đau, gân thịt máy động (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Kiêng kỵ:
+Không phải ôn dịch nhiệt độc và Can không có
nhiệt: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Liều dùng: 0,1-0, 2g dưới dạng bột; 2-4g dưới
dạng thuốc sắc.
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị ngăn nghẹn không thông: Linh dương giác,
tán nhuyễn, uống (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị sản hậu phiền muộn, mồ hôi chảy ra: Linh
dương giác, đốt, uống với nước (Thiên Kim Phương).
+ Trị Tâm Phế có phong nhiệt bốc lên mắt gây
nên mộng mắt: Linh dương giác, Hoàng cầm (bỏ lõi đen), Sài hồ, Thiên ma đều
1,2g, Cam thảo sống 40g. Tán bột. Mỗi lần dùng 20g, sắc với 1,5 chén nước còn 1
chén, uống sau bữa ăn (Linh Dương Giác Thang – Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị huyết lâm, tiểu ra máu, nhiệt kết gây nên
tiểu buốt: Chi tử nhân 40g, Đại hoàng (sao) 20g, Đại thanh 20g, Đông quỳ tử (sao)
40g, Hồng lam hoa (sao) 20g, Linh dương giác 40g, Lý tử 20g, Thanh tương tử
20g. Trộn đều. Mỗi lần dùng 12g, sắc uống ấm (Linh Dương Giác Ẩm – Thánh Tế Tổng
Lục).
+ Trị mắt có màng, mắt mờ, mắt nhìn thấy vật
như ruồi bay: Địa cốt bì 40g, Huyền sâm 40g, Khương hoạt 40g, Linh dương giác
40g, Nhân sâm 40g, Xa tiền tử 40g. Tán bột. Mỗi lần dùng 12g, sắc uống ấm (Linh
Dương Giác Ẩm – Thế Y Đắc Hiệu).
+ Tri đi tiêu phân đen như gan gà, khát: Linh
dương giác 45g, Hoàng liên 60g, Hoàng bá(bỏ vỏ đen) 45g. Tán nhuyễn,
trộn với mật làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần
uống 50-60 viên với nước trà pha dấm (Linh Dương Giác Hoàn – Thế y Đắc Hiệu
Phương).
+ Trị sản hậu ác huyết xông lên gây ra phiền
muộn hoặc trong bụng cứ đau mãi: dùng Linh dương giác, đốt tồn tính, hòa rượu
uống, rất hay (Bản Thảo Cương Mục).
+ Trị trúng phong, tâm phiền, hoảng hốt, trong
bụng đau muốn chết: Linh dương giác tiêm, sao sơ, tán nhuyễn. Mỗi lần uống 4g
với rượu ấm (Dị Giản Phổ Tế Lương Phương).
+ Trị mắt sưng đỏ, mắt đau: Cát cánh 4g, Chi tử
(sao) 4g, Hắc sâm 4g, Hoàng cầm 4g, Linh dương giác 6g, Sài hồ 4g, Sung úy tử
8g, Tri mẫu 4g, Sắc uống (Linh Dương Ẩm – Y Tông Kim Giám).
+ Trị chứng đầu đau do phong: Bạc hà, Liên kiều,
Linh dương giác, Mẫu đơn bì, Ngưu bàng tử, Tang diệp. Sắc uống (Linh
Dương Thang – Y Thuần Thặng Nghĩa).
+ Trị co giật, uốn cong người kèm Can phong
trong ôn bệnh: Linh dương giác, Câu đằng, sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị kinh giật do Can âm hư: Linh dương giác,
Tang ký sinh, Long cốt, Mẫu lệ, sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị động kinh: Linh dương giác, Cương tằm,
Câu đằng, Đảng sâm đều 1,5g, Thiên ma, Cam thảo đều 1g, Toàn yết 0,7g, Ngô công
0,3g. Tán bột, mỗi lần uống 1g, ngày 2-3 lần (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1981
(11): 522).
Tìm hiểu thêm
Tên khoa học:
Cornu Antelopis. Họ Trâu Bò (Bovidae).
Mô Tả:
Dê rừng là tên gọi nhiều loài khác nhau: con
Nguyên Linh (Gazella gutturosa), con Tạng Linh (Pantholops hodgsoni) con Ban
Linh hoặc Thanh Dương (Naemorhedus goral)v.v.. Sống thành từng bày ở miền rừng
núi Việt Nam, có nhiều ở các núi đá vôi đảo Cát Bà (Hải Phòng).
Thu hái, Sơ chế:
Thu hoạch quanh năm. Khi săn bắn được, cưa lấy
sừng, để dành dùng.
Bộ phận dùng:
Sừng (Cornu Antelopis). Chọn thứ nào đen, xanh,
sừng đen là tốt.
Mô tả dược liệu:
Linh dương giác hình chùy tròn, dài 20-40cm,
hình cong, đặc biệt ngọn sừng vênh ra ngoài, đường kính phía bên dưới khoảng
4cm. Toàn sừng mầu trắng hoặc trắng ngà, trừ phần đầu. Có khoảng 10-20 đốt nổi
cao thành vòng quấn chung quanh. Cầm vào tay có cảm giác dễ chịu. Sừng non
trông suốt qua có tia máu hoặc mầu đen tím, không có vết nứt. Sừng gìa có vết
nứt dọc, không có đầu đen. Nửa sừng bên dưới ở trong có nút xương, gọi là ‘Linh
dương tắc’, nút hình tròn, mặt ngoài có vết lồi ra đúng với rãnh ở mặt trong
sừng. Mặt cắt ra trong chỗ giáp nhau có răng cưa không đều, rút cái nút ra thì
nửa sừng bên dưới là cái ống, bên trong rỗng, có lỗ nhỏ, thông đến ngọn, gọi là
‘Thông thiên nhãn’. Đưa ra ánh sáng thì trong suốt, đó là đặc trưng chủ yếu của
sừng. Chất cứng, không mùi, vị nhạt.
Loại non, trắng, bóng nhẵn, trong có tia máu
không có vết nứt là tốt. Chất gìa, mầu trắng vàng, cod vết nứt là kém.
Bào chế:
+ Lấy Linh dương giác chẻ ra, ngâm trong nước,
vớt ra, bỏ gân, bào mỏng, phơi khô là được (Dược Tài Học).
+ Dùng dũa hoặc là mài mòn để lấy bột tán ra
thật nhuyễn thì uống khỏi hại dạ dày (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
+ Mài lấy bột, hòa uống hoặc cắt phiến sắc
uống hoặc mài lấy nước cốt, hòa uống (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+Trong sừng dê rừng có Calci Phosphat, Keratin,
Chất hữu cơ... (Dược Liệu Việt Nam).
+ Keratin (Nam Kinh Dược Học Viện(Trung Thảo
Dược Học), q 1. Nam Kinh: Giang Tô Khoa Học Chi Thuật Xuất Bản 1980: 1475).
+ Lysine, Serine, Glutamic acid, Phenylalanine,
Leucine, Aspartic acid, Tyrosine, (Từ Liên Anh, Trung Thành Dược 1988 (12):
32).
+ Lecithine, Cephalin, Sphingomyelin,
Phosphatidylserine, Phosphaatidylinositol (Giang Bội Phân, Trung Dược Thông Báo
1982, 7 (6): 27).
Tác dụng dược lý
+Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: nước
sắc Linh dương giác ức chế hệ thần kinh trung ương, biểu
hiện bằng hạ hoạt động của thần kinh hướng vận động ở chuột nhắt cũng như giảm
thời gian tác dụng của Barbiturates. Thuốc cũng ức chế cảm giác đối với
Strychnine và Caffeine. Hoạt chất này không gây gĩan cơ nhưng có 1 số đặc tính
gây tê (Trung Dược Học).
+Tác dụng đối với điều hòa nhiệt độ: nước sắc
Linh dương giác làm hạ nhiệt độ đối với thỏ gây sốt bằng cách tiêm chế phẩm
thương hàn hoặc phó thương hàn. Hiệu quả này bắt đầu trong vòng 2 giờ và kéo
dài hơn 6 giờ (Trung Dược Học).
+Tác dụng chuyển hóa: nước sắc Linh dương giác
làm tăng sức đề kháng đối với việc oxy giảm ở súc vật (Trung Dược Học).
+ Giáng áp: Nước sắc Linh dương giác thí
nghiệm trên động vật thấy có tác dụng giáng áp (Trần
Trương Viên, Trung Thành Dược 1990, 12 (11): 27).
Độc tính:
Linh dương giác có độc tính thấp: cho chuột
nhắt uống liều 2g/kg mỗi ngày, liên tục 7 ngày, thấy thể trọng tăng, ăn uống,
hoạt động tự do, cho thấy có biến đổi ít (Brekhman I I và cộng sự. FarMaKOp p
ToKcNKop, 1971, 34 (1): 36).
Tính vị:
+ Vị mặn, tính hàn (Bản Kinh).
+ Vị đắng, tính hơi hàn, không độc (Danh Y Biệt
Lục).
+Vị mặn, tính hàn (Trung Dược Học).
+Vị mặn, tính hàn (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa
Quốc Dược Điển).
+Vị mặn, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Quy kinh:
+ Thuộc mộc, vào kinh Quyết âm (Bản Thảo Diễn
Nghĩa Bổ Di).
+ Vào kinh thủ Thâí âm, thủ Thiếu âm, túc Quyết
âm (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, túc Thái dương
Bàng quang (Bản Thảo Tam Gia Hợp Chú).
+Vào kinh Can, Tâm (Trung Dược Học).
+Vào kinh Can, Tâm (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa
Quốc Dược Điển).
+Vào kinh Can, Tâm, Phế (Đông Dược Học Thiết
Yếu).
Tham khảo:
+ “Thỏ ty tử làm sứ cho Linh dương giác” (Bản
Thảo Kinh Sơ).
+ “Linh dương giác thuộc hành Mộc, cho nên nó
vào Can cũng dễ, vì những gì đồng khí thì dễ tìm đến nhau. Can khai khiếu ở mắt,
khi phát bệnh, mắt có khi có mộng thì Linh dương giác đều chữa được. Can chủ về
phong, thuộc vào Can là cân, khi phát bệnh trẻ nhỏ thường bị kinh giản, phụ nữ
có thai thì bị động kinh, Linh dương giác đều chữa được cả. Hồn là thần của Can,
khi phát bệnh thì kinh sợ không yên, phiền muộn, mê sảng, dùng Linh dương giác
có thể làm cho yên được. Huyết là vật chứa của Can, khi phát bệnh ứ tắc, đọng
trệ, sinh ra ghẻ chóc, mụn nhọt, kiết lỵ: Linh dương giác có thể làm cho tan ra.
Nói tóm lại, Linh dương giác là vị thuốc chuyên chữa về các bệnh của Can (Trung
Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
+ “Linh dương ngủ đêm thường treo sừng lên cây
mà ngủ, vì vậy, khi dùng chọn thấy thứ nào bóng mà nhọn nhỏ và có dấu mòn, cầm
để vào tai nghe thấy hơi có tiếng u u là thứ thật (Trung Quốc Dược Học Đại Tự
Điển).
+ “Sơn dương giác có vị mặn, tính hàn và có đặc
tính giống như Linh dương giác nhưng yếu hơn. Sơn dương giác có thể dùng thay
thế Linh dương giác với liều 9-15g. Tuy nhiên, phải nấu 30 phút trước khi cho
vào thuốc sắc”(Trung Dược Học).
+ “Thanh nhiệt hoặc giải nhiệt độc thì Linh
dương giác không mạnh bằng Tê giác, ngược lại, Linh dương giác lại có hiệu quả
hơn trong việc gĩan cơ và trừ phong. Trong những trường hợp hôn mê, sốt cao co
giật, Linh dương giác và Tê giác thường được dùng chung” (Trung Dược Học).
+ “Sừng con Linh dương phần nhiều là 2 sừng, có
màu vàng thẫm, hơi nhẵn bóng, đỉnh sừng hơi cong, có các khớp hình trôn ốc, rất
cứng, dao cắt không vào được” (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ “Linh dương giác và Tê giác đều có vị mặn,
tính hàn. Cả 2 đều có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, trấn kinh.
Linh dương giác thiên về Can kinh, vào khí huyết, công dụng chủ yếu là thanh
Can, khứ phong, trấn kinh, thiên về Can. Tê giác vị đắng, thiên về Tâm kinh,
chạy vào phần huyết, chuyên thanh Tâm, lương huyết, tán ứ, công dụng thiên về
Tâm và huyết” (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê).
+ “Linh dương giác dùng vào các bệnh mụn nhọt
thì không bằng Tê giác nhưng nó lại có công dụng thanh
Can, minh mục, trị mắt đỏ, có ghèn” (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê)