Còn gọi là bệnh Liệt Run, xẩy ra do có những tổn thương
thoái hoá ở vài vùng trên não, đưa đến sự thiếu hụt chất
sinh học là Dopamin.
Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi, từ 50-65.
Đông y gọi là Ma Mộc, Tứ Chi Nhuyễn Nhược, Chấn Chiến. Giai
đoạn cuối cùng của bệnh được xếp vào loại Nuy Chứng.
Nguyên Nhân
Theo YHHĐ:
.
Nhiều tác giả cho là do xơ vữa động mạch não làm tổn thương
các tế bào vùng ngoài tháp, nhất là ở vùng nhân xám.
.
Hội chứng liệt run xẩy ra sau viêm não phát dịch, viêm não
do cúm, sau khi bị nhiễm độc thuỷ ngân, Asen CO, các dẫn
chất của Phenothiazin, Resecpin, hoặc do bệnh giang mai thần
kinh.
Theo YHCT:
Nguyên nhân chính gây nên bệnh Parkinson là do ảnh hưởng của
tuổi già, do Can huyết và Thận âm bị suy yếu. Huyết bị suy
kém không nuôi dưỡng được các khớp và các mạch máu gây nên
co rút, co cứng, run giật. Âm hư thì dương vượng sẽ khiến
cho Can phong nội động. Nếu phong hợp với đờm thấp thì kinh
lạc sẽ bị ngăn trở gây ra run.
Cũng có thể do uất ức, giận dữ làm tổn thương Can. Can mất
chức năng sơ tiết, khí sẽ bị uất kết. Khí có tác dụng hành
huyết, vì thế, khí bị ngăn trở thì huyết sẽ bị ứ trệ. Huyết
bị ứ trệ sẽ không nuôi dưỡng được các khớp, không sinh ra
được huyết mới. Vì vậy các khớp không được nuôi dưỡng sẽ gây
nên cứng, khó cử động, co giật, run. Ăn uống kém dinh dưỡng,
tuổi già, lo âu, ưu tư, mệt mỏi, Tỳ hư có thể dẫn đến Thận
hư, Thận dương hư. Tỳ Thận hư không vận hoá được thuỷ dịch
trong cơ thể, thuỷ dịch hoá thành thấp, tụ lại thành đờm.
Đờm thấp ngăn trở trong kinh mạch hoá thành nhiệt, khiến cho
phong quấy động gây nên run.
Chẩn Đoán
Bệnh diễn tiến âm thầm, triệu chứng có thể chỉ ở một bên cơ
thể. Đến khi có các triệu chứng sau đây bệnh mới được phát
hiện:
.
Tăng trương lực cơ: đặc trưng bởi hiện tượng bánh xe răng
cưa, xuất hiện khi bệnh nhân co duỗi thụ động các khớp cổ
tay, khuỷ tay.
.
Run: thường ở đầu ngón tay, trường hợp nặng có thể run cả
cẳng tay và bàn tay. Đặc điểm là run xuất hiện khi nghỉ và
giảm mất khi người bệnh chú ý làm việc khác, bàn tay vê vê
như đếm tiền.
.
Mặt bất động: vẻ mặt trở nên cứng, không biểu hiện được cảm
xúc trên khuôn mặt, dù mắt rất linh hoạt.
.
Rối Loạn Dáng Đi: đi chậm, đầu hơi cúi, lưng hơi khom, cẳng
tay hơi gấp, chân hơi co và không đánh tay được. Khi để đoạn
chi ở một tư thế nào đó thì nó lâu trở lại vị trí bình
thường.
Ngoài ra còn có biểu hiện tăng tiết nước miếng, mặt bóng,
những cơn đỏ bừng mặt do rối loạn thần kinh thực vật.
Điều trị
1. Can âm suy, hư phong nội động:
Triệu chứng: Gân cơ cứng, tay chân hoặc hàm dưới run, đau,
tay chân tê, nhất là khi nghỉ ngơi, nhưng khi vận động thì
lại đỡ, đi đứng khó khăn, mắt mờ, mắt dại, hố mắt dưới có
quầng đen, khó nuốt, táo bón, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mạch
Huyền, Tế.
Điều trị: Dưỡng Can, bổ Thận, tư âm, tức phong.
Phương thuốc: Dùng bài Nhất Quán Tiễn hợp với Linh Giác Câu
Đằng Thang gia giảm:
Tê thêm Kê huyết đằng 20g, Ty qua lạc 9g.Dễ tức giận thêm
Hoàng cầm, Chi tử đều 9g.
Tiểu khó do Thận khí suy thêm Kim anh tử, Phúc bồn tử, Liên
tử đều 15g.
Thận dương hư thêm Dâm dương hoắc, Thỏ ty tử đều 9g, Nhục
quế 1g (tán bột, uống với nước thuốc sắc). Miệng khô, khát
thêm Thiên hoa phấn 15g, Mạch môn 9g.
2. Can khí uất kết – khí trệ huyết ứ:
Triệu chứng: Đầu, hàm dưới, tay và chân run nhất là lúc ngủ
và ban đêm, không thể cúi ngửa, đau cố định và mất cảm giác
toàn thân hoặc chân tay, dễ tức giận, lưỡi đỏ tím, có vết
xuất huyết, mạch Tế, Huyền, Sáp.
Điều trị: Trấn Can, tức phong, hoạt huyết, thông kinh lạc.
Phương thuốc: Dùng bài Trấn Can Tức Phong Thang hợp với
Thông Khiếu Hoạt Huyết Thang:
Tang kí sinh
20
Đan sâm
15
Đại giả thạch
15
Thạch quyết minh
15
Bạch thược
15
Xuyên luyện tử
12
Hương phụ
12
Thiên ma
9
Câu đằng
9
Ngưu tất
9
Qui đầu
9
Đào nhân
9
Hồng hoa
9
Uất kim
9
Xương bồ
9
Nhũ hương
6
Một dược
6
Cam thảo
6
Bạch thược, Xuyên luyện tử, Hương phụ, Uất kim sơ Can, giải
uất, lý khí
Đại giả thạch, Thạch quyết minh, Thiên ma, Câu Đằng, Ngưu
tất bình Can, tiềm dương, tức phong, trấn chiến
Đan sâm, Đương quy, Đào nhân, Hồng hoa, Uất kim, Nhũ hương,
Một dược hoạt huyết, thông kinh lạc;
Tang ký sinh, Đương quy, Ngưu tất dưỡng Can huyết, bổ Thận
âm để ức chế dương
Thạch xương bồ hoá đờm, khai khiếu
Cam thảo điều hoà các vị thuốc
Can uất hoá hoả gây nên bứt rứt, miệng khô, đắng, dễ tức
giận, táo bón, phân khô, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng thêm
Đơn bì, Chi tử, Hoàng cầm đều 15g.
Huyết hư thêm A giao 15g, tăng Bạch thược lên 30g.
Can Vị bất hoà thêm Sinh địa, Bán hạ, Tuyền phúc hoa đều 9g.
Đau nhiều cố định một chỗ thêm Đan sâm, Kê huyết đằng đều
15g. Gân cơ co cứng, run nhiều thêm Bạch tật lê 12g, Toàn
yết, Ngô công đều 3g (tán bột, uống với nước thuốc sắc),
Bạch thược tăng lên 30g. Khó co duỗi thêm Địa long, Cát căn
đều 15g và Bạch hoa xà 2g (Tán bột, uống với nước thuốc
sắc).
Tay đau, tê thêm Khương hoạt 9g. Chân đau, tê thêm Mộc qua
9g.
Khớp đau thêm Uy linh tiên 12g.
Nếu khí trệ, đờm ngưng, tay chân run, đi lại khó, đi chậm,
hai tay cứng, nói khó, không viết được, đầu đau, mất ngủ,
khó nuốt, ngực đầy, hông sườn đầy, rêu lưỡi móng, mạch Hoạt,
Huyền, không dùng bài Trấn Can Tứ Phong Thang hợp với Thông
Khiếu Hoạt Huyết Thang bằng Bán Hạ Hậu Phác Thang gia giảm:
Bán hạ, Hậu phác, Phục linh, Sài hồ, Bạch thược, Chỉ xác,
Xuyên khung, Bạch truật, Cương tằm, Đởm nam tinh, Thuyền
thoái đều 9g, Cam thảo 5g.
3.Khí huyết đều hư, khớp không được nuôi dướng, Kinh mạch
ứ trệ:
Triệu chứng: Da mặt xanh xạm, mệt mỏi, tinh thần uể oải,
không có sức, sợ lạnh, ngại nói, đầu chi co giật, cứng, tay
chân tê, gáy cứng, đi lại khó khăn, phân lỏng, dễ bị phù,
lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, có vết ứ huyết, mạch Trầm Tế.
Điều trị: Ích khí, dưỡng huyết, tức phong, thông kinh hoạt
lạc.
Phương thuốc: Dùng bài Quy Tỳ Thang, Bổ Dương Hoàn Ngũ
Thang, Thiên Ma Câu Đằng Ẩm:
Tang ký sinh, Ngưu tất tư dưỡng Can Thận âm để chế dương
Bán hạ, Đởm nam tinh, Chỉ thực, Trần bì, Hoàng cầm, Trúc
lịch thanh nhiệt, hoá đờm, tức phong
Cam thảo điều hoà các vị thuốc
Các khớp cứng, run nhiều thêm Bạch tật lê, Thuyền thoái đều
12g.
Khó co duỗi thêm Cát căn, Bạch hoa xà đều 20g (tán bột,
uống với nước thuốc sắc).
Chi trên tê, đau thêm Khương hoạt.
Chi dưới tê đau thêm Mộc qua.
Có dấu hiệu Tỳ hư rõ, thay Thiên Ma Câu Đằng Ẩm gia giảm và
Đạo Đờm Thang gia giảm bằng Hoàng cầm, Bán hạ đều 20g, Phục
linh, Bạch truật đều 15g, Trần bì, Hương phụ, Sa nhân, Xuyên
khung, Chỉ xác, Đởm nam tinh, Quế chi, Thiên ma đều 9g, Toàn
yết, Ngô công đều 3g.