Đại Cương
Bệnh của vú là những bệnh phát sinh ở bầu vú
thường gặp trong ngoại khoa Đông y; người xưa và
trong dân gian có nhiều kinh nghiệm trong điều trì,
chúng ta cần tham khảo.
Sự Quan Hệ Giữa Kinh Lạc Và Tuyến Vú
Tuyến vú ở vào vị trí khoảng trước xương sườn
ngực 3 và 6.
Theo Y học cổ truyền thì vú là nơi hội tụ của các
kinh lạc như kinh dương minh vị, kinh Thái âm Tỳ,
kinh Quyết âm Can, kinh Thiếu âm Thận đều từ chân
lên ngực có nhánh vào vú, 2 mạch Xung Nhâm cũng từ
bào cung đi qua bụng, rốn lên ngực và có
phân nhánh vào tuyến vú. Người xưa cũng cho là
nam giới, đầu vú thuộc can, bầu vú thuộc thận, nữ
giới thì đầu vú thuộc Can còn bầu vú thuộc Vị, và
như vậy là vú có quan hệ mật thiết với các kinh Can,
Vị, Thận và 2 mạch Xung, Nhâm.
Sự Quan Hệ Giữa Tạng Phủ Và Tuyến Vú
Kinh lạc là bắt nguồn từ tạng phủ và đi ra bề mặt
cơ thể, cho nên các tạng phủ có kinh lạc thông với
vú tất nhiên là có quan hệ với tuyến vú. Thận là vốn
của tiên thiên và Tỳ là nguồn của hậu thiên, cho nên
sự phát triển của tuyến vú là không thể tách rời 2
tạng Tỳ Thận. Sữa do tinh chất của thức ăn tạo thành,
Tỳ Vị có khỏe sữa mới có nhiều. Can chủ sơ tiết. Và
chi phối tiết sữa, Can khí mà không thư thái thì
việc tiết sữa cũng bị hạn chế.
Nguyên Nhân Và Cơ Chế Sinh Bệnh Tuyến Vú Theo
Y Học Cổ Truyền
Sự quan hệ giữa tạng phủ, kinh lạc và tuyến vú
rất mật thiết cho nên các yếu tố làm tắc nghẽn kinh
lạc, gây rối loạn chức năng tạng phủ đều có thể gây
bệnh tuyến vú. Những nguyên nhân thường gặp có:
+ Can Thấp Nhiệt: do Can khí không thông đạt, ăn
nhiều chất béo mỡ gây tích nhiệt ở Tỳ Vị, kinh lạc
không thông, khí trệ huyết ứ lâu ngày hóa nhiệt gây
bầu vú sưng nóng đỏ đau, làm mủ thường kèm theo sốt,
sợ lạnh, miệng khát muốn uống, tiểu ít, nước tiểu
vàng đậm, chất lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng, mạch
Huyền Sác. Trường hợp nhũ ung, nhũ phát thường gặp
thể bệnh này.
+ Can Khí Uất Kết: người thường tức giận lo lắng,
Can khí không được thư thái sinh khí trệ huyết ứ,
Can uất làm ảnh hưởng đến sự vận hóa của Tỳ, Tỳ rối
loạn thì đờm trọc nội sinh, khí trệ đờm ứ liên kết
với nhau thành khối u, mặt thường nhẵn, cứng di động
hoặc không, kèm theo bứt rứt, dễ bực bội, kinh
nguyệt không đều, chất lưới đỏ, rêu trắng mỏng, mạch
Huyền Hoạt. Thường gặp trong các chứng nhũ tích, nhũ
nham.
+ Can Thận Bất Túc: có thể do tiên thiên bất túc
hoặc hậu thiên mất cân bằng, sinh đẻ quá nhiều gây
nên Can Thận hư tổn, hai mạch Xung Nhâm mất điều hòa,
tinh huyết thiếu, thủy không dưỡng được mộc khiến
cho Can hỏa vượng lên nung nấu tân dịch thành đờm,
đờøm kết thành hạch, thường phát triển có liên quan
đến kinh nguyệt và thai nghén. Triệu chứng: đau tức
tăng trước lúc có kinh, kèm theo chóng mặt ù tai,
lưng đau gối mỏi, kinh nguyệt không đều, lưới đỏ rêu
trắng mỏng, mạch Huyền Tế Sác. Thường gặp trong
trường hợp nhũ tích, nhũ lịch.
+ Âm Hư Đờm Ngưng: do Phế Thận âm hư sinh hỏa
vượng, đốt tân dịch thành đờm, đờm kết tụ ở vú sinh
khối u. Thường sắc da không thay đổi, hơi đau, phát
triển thành mủ chậm, nước mủ loãng trong, thường kèm
theo sốt chiều, đêm ra mồ hôi trộm, người gầy ăn ít,
chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch Tế Sác. Thường gặp
trong chứng Nhũ lao có liên quan với chứng Phế âm
hư.
+ Độc Tà Ngoại Nhập: do chính khí suy, hoặc do
xây xát ngoài da, do đầu vú lõm dễ nhiễm ngoại tà
sinh bệnh, hoặc do trẻ bú trong miệng có độc nhiễm
phải gây nên chứng Nhũ ung, Nhũ phát.
Những Điều Cần Chú Ý Lúc Khám Vú
Khám vú là khâu quan trọng để phát hiện bệnh của
vú mà phương pháp chủ yếu là nhìn và sờ nắn.
1. Cách nhìn: Để bệnh nhân ngồi hoặc đứng ngay
ngắn, cởi áo bộc lộ vú đầy đủ. Lúc nhìn chú ý vị trí
của bầu vú to nhỏ những điểm khác thường, đầu vú lõm
lồi, mầu da của vú, dùng tay nâng bầu vú lên hoặc
bảo bệnh nhân đưa cao cánh tay lên đầu để khám. Có
thể so sánh vú cả hai bên để phát hiện sự khác
thường.
2. Cách sờ nắn: bệnh nhân có thể ở tư thế ngồi,
nằm hoặc kết hợp cả hai. Khám bên lành trước, bên
bệnh sau để dễ phát hiện bệnh lý. Tốt nhất là dùng
phần bụng của 4 ngón tay khép lại áp sát vào da của
vú, ấn với độ nặng nhẹ khác nhau để phát hiện độ
cứng mềm, tính chất khác nhau của khối u. Khám lần
lượt bầu vú đến quầng vú và núm vú và chú ý xem có
nước chảy ở đầu vú không.
Những điều cần chú ý lúc sờ nắn vú:
a- Khám bầu vú tốt nhất là sau khi thấy kinh 7-10
ngày là lúc mà trạng thái sinh lý của tuyến vú tương
đối ổn định, có hòn cục dễ phát hiện.
b- Phát hiện khối u ở bầu vú cần hiểu rõ vị trí,
to nhỏ, hình thái, độ cứng, độ đau, độ di động, bề
mặt của khối u.
c - Cần kiểm tra tình hình hạch lym phô ở hố
nách, hố thượng đòn và hố hạ đòn.
d - Cần kết hợp với độ tuổi, tiền sử bệnh và các
mặt khám xét khác để xác định chẩn đoán.
Các Phương Pháp Điều Trị Bệnh Tuyến Vú
Phương Pháp Điều Trị Nội Khoa
+ Giải Biểu Tiêu Độc: dùng cho chứng nhũ ung giai
đoạn mới phát, có triệu chứng sốt, sợ lạnh, lưỡi đỏ,
rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Phù Sác. Bài thuốc thường
dùng: Qua Lâu Ngưu Bàng Thang (Qua lâu, Ngưu bàng tử,
Thiên hoa phấn, Hoàng cầm, Trần bì, Chi tử, Tạo giác
thích, Kim ngân hoa, Thanh bì, Sài hồ, Cam thảo,
Liên kiều), Ngân Kiều Tán (Kim ngân hoa, Liên kiều,
Ngưu bàng tử, Cát cánh, Bạc hà, Trúc diệp, Kinh giới,
Đạm đậu xị, Sinh cam thảo, Lô căn tươi).
+ Thanh Nhiệt Giải Độc: dùng cho chứng nhũ ung,
nhũ phát dạng nhiệt độc thịnh, giai đoạn làm mủ. Có
triệu chứng nóng sốt, khát nước, táo bón, nước tiểu
vàng đậm, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền
Sác. Dùng bài Hoàng Liên Giải Độc Thang, Nội Sơ
Hoàng Liên Thang (Binh lang, Mộc hương, Chi tửû,
Liên kiều, Bạc hà, Hoàng cầm, Hoàng liên, Cam thảo,
Cát cánh, Đại hoàng, Đương quy, Bạch thược).
+ Thác Lý Thấu Nùng: dùng cho bệnh nhân cơ thể
suy nhược, khí huyết hư,, làm mủ khó vỡ hoặc vỡ mủ
ra nước trong loãng, miệng nhọt bằng, sưng, khó liền
miệng, môi lưỡi đỏ nhợt, mạch Trầm Tế vô lực. Dùng
bài Thác Lý Thấu Nùng Thang (Nhân sâm, Bạch truật,
Sơn giáp, Bạch chỉ, Thăng ma, Đương quy, Cam thảo,
Hoàng kỳ, Tạo giác thích, Thanh bì), hoặc bài Thác
Lý Tiêu Độc Tán.
+ Giải Uất Hóa Đờm: dùng cho chứng bệnh tinh thần
không thư thái, can khí uất khiến chức năng tỳ rối
loạn, đờm khí kết tụ sinh bệnh nhũ trung kết hạch
như Nhũ tích, Nhũ lịch, Nhũ nham..., dùng các bài
Tiêu Dao Tán hợp Tiểu Kim Đơn.
+ Bổ Ích Phù Chính: dùng cho chứng Nhũ nham, Nhũ
lao sau khi loét, sắc mặt kém tươi nhuận, khó thở,
mệt mỏi, chán ăn, môi lưỡi nhợt, mạch Tế vô lực hoặc
sốt chiều ra mồ hôi, váng đầu, ù tai, chất lưỡi đỏ,
mạch Tế Sác; Hoặc người mát, chân tay lạnh, đại tiện
lỏng, lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Trì;
Hoặc Nhũ ung, Nhũ phát, Nhũ lao đã vỡ, khí huyết đều
hư; thường dùng bài Dưỡng Vinh Thang, Quy Tỳ Thang.
Trường hợp Can Thận bất túc, chọn dùng các bài Tả
Qui Hoàn, Hữu Qui Hoàn, Lục Vị Địa Hoàng Hoàn, Nhị
Tiên Thang (Tiên mao, Tiên linh tỳ, Đương qui, Ba
kích, Tri mẫu, Hoàng bá).
Phương Pháp Điều Trị Tại Chỗ
+ Phương Pháp Dán Thuốc: Đối với các chứng như
Nhũ ung, Nhũ phát thuộc dương chứng, nên thanh nhiệt,
giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng. Dùng Kim Hoàng Tán,
Ngọc Lộ Tán, Song Bá Tán trộn với nước hoặc mật đắp
ngoài, ngày dùng 1-2 lần. Lúc vỡ mủ rồi dùng các bài
Bát Nhị Đơn, Cửu Nhất Đơn. Sau khi mủ ra gần hết,
trường hợp hết mủ, dùng Sinh Cơ Tán, Sinh Cơ Ngọc
Hồng Cao. Đối với những trường hợp ung thư, nên ôn
kinh hòa dương, hóa đờm, thông lạc, tiêu thũng, chỉ
thống, nên dùng Dương Hòa Giải Ngưng Cao, Thấm Hắc
Thối Tiêu, Quế Xạ Tán v.v...
+ Điều Trị Bằng Phẫu Thuật: rạch da tháo mủ (đối
với chứng Nhũ ung, Nhũ phát giai đoạn làm mủ), phẫu
thuật ngoại khoa (đối với chứng u xơ hoặc ung thư vú).
(Theo yhocotruyen) |