Là những ổ mủ to hoặc nhỏ,
nhiều hoặc ít, ở vào khoảng cửa ở thành ống mật và
huyết quản hoặc đã lan vào mô gan. Đông y đã nhắc
đến bệnh này từ rất lâu với tên bệnh là Can ung.
Nguyên Nhân
Theo YHHĐ:
. Do amip và vi
khuẩn xâm nhập vào gan qua một trong ba đường: Động
mạch, tĩnh mạch cửa và ống mật.
. Xuất phát từ nhiễm khuẩn
huyết, vi khuẩn qua động mạch gan xâm nhập vào gan,
nhất là mặt gan ngoài.
. Bắt nguồn từ một áp xe ruột
dư, một ổ mủ khác ở bụng, amip và vi khuẩn theo
đường tĩnh mạch cửa xâm nhập vào gan và thường trú ở
thuỳ phải. Hoặc từ ống mật amip chạy vào gan, phổ
biến nhất vào thuỳ trái.
. Ở Việt Nam, đa số là loại áp
xe gan do amip, áp xe gan – ống mật.
Theo YHCT:
. Do Tình Chí Uất
Kết: Can chủ sơ tiết, nếu Can khí bị uất kết, khí
nghịch làm cho huyết ứ trệ ở kinh Can lâu ngày hoá
độc gây ra. Mộc khắc Tỳ thổ, Tỳ mất chức năng kiện
vận, sẽ sinh ra thấp nhiệt, ngừng trệ ở Can Đởm lâu
ngày sẽ sinh ra ung.
. Do Ăn Uống Không Điều Độ:
Thức ăn cao lương mỹ vị (nhiều chất béo), cay nóng,
thức ăn nướng... làm tổn thương trường vị, mất chức
năng vận hoá, thuỷ thấp không vận chuyển được, sinh
ra thấp nhiệt ở bên trong, ứ kết lại ở Can Đởm. Khí
huyết và thấp, đờm cùng bị ngăn trở gây nên chứng
Can ung. Sách ‘Mã Bồi Chi Ngoại Khoa Y Án’ viết:
”Thích uống rượu, mỗi lần uống nhiều, rượu vào trong
Vị sẽ làm cho gan nở ra, Đởm bốc lên. Đởm bùng lên
thì khí huyết không thông được, đờm trọc ở trong vị
sẽ tràn ra hai bên hông sườn. Đờm, khí, huyết hợp
lại với nhau, kết lại thành chứng ung”.
. Do Tổn Thương:
dùng sức quá mức hoặc do té ngã tổn thương làm cho
lạc mạch bị ứ huyết, huyết ứ hoá ra nhiệt khiến cho
huyết bị bại, huyết nhục bị thối nát hoá ra mủ thành
chứng ung.
. Do ôn độc hoặc thấp nhiệt
độc lâu ngày không giải trừ được, làm thương tổn
tạng Can, khiến cho khí huyết bị ứ trệ, huyết nhục
bị thối nát hoá ra mủ (Nội Khoa Học Thành Đô).
. Do biến chứng từ một số bệnh
khác như Trường ung (viêm ruột), giun đũa (giun chui
ống mật), do ký sinh trùng Amip (Entamoeba
Histolytica) gây ra (vì vậy còn gọi là Áp xe gan
Amip), chứng kết hung phát vàng da hoặc sau khi giải
phẫu mật, do viêm nhiễm ở đường mật lan sang (gọi là
Áp xe đường mật), tà độc lưu trệ, ứ ở bên trong làm
tổn thương Can mạch, uất lại gây nên.
Mã Bồi Chi nhắc đến một số yếu
tố gây bệnh như sau: “Đờm khí huyết trệ ứ ở Can lạc”
– “Đàm nhiệt nhập vào Can lạc”.
Chẩn Đoán Phân Biệt
Để người bệnh nằm ngửa, đùi
hơi co để làm giãn các cơ thành bụng, thầy thuốc
ngồi bên phải, luồn tay trái vào vùng thắt lưng, bàn
tay ngửa áp sát vào lưng để đẩy gan ra phía trước
bụng khi gan to. Bàn tay phải đặt trên bụng, các
ngón tay hơi chếch so với bờ sườn. Bảo người bệnh
thở mạnh, có thể sờ thấy bờ dưới của gan.
+ Gan to nhưng mềm và đều đặn
là do bệnh của tim.
+ Gan lổn nhổn, bờ sắc là gan
bị xơ.
+ Gan lổn nhổn, bờ tù có thể
là áp xe gan đường mật và ứ mật.
+ Khối u cứng có thể là ung
thư gan.
+ Khối u mềm có thể là áp xe
gan.
Sai lầm khi chẩn đoán phân
biệt áp xe gan hơi khó vì thường dựa theo các triệu
chứng phụ và chẩn đoán:
. Thấy bệnh nhân sốt nên nghĩ
đến sốt rét, phổi viêm.
. Thấy thể trạng suy kiệt
nhanh nên nghĩ đến lao...
Trên lâm sàng bệnh thường diễn
biến qua 3 giai đoạn:
1- Giai Đoạn Nung Mủ:
Nguyên
nhân: do Can uất hoá hoả hoặc huyết ứ hoá nhiệt,
thấp nhiệt nung nấu, ngưng kết ở Can Đởm lâu ngày
gây nên.
Chứng:
Nóng lạnh thất thường, hạ sườn bên phải đau, ấn vào
đau hơn, không muốn nằm nghiêng, miệng khô, tiểu
vàng, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng trắng, mạch Huyền
Hoạt. Giai đoạn này tương ứng với giai đoạn viêm của
YHHĐ.
Biện Chứng:Can Đởm có quan hệ Biểu Lý vì vậy tà độc
nhập vào Can gây ra lúc nóng lúc lạnh. Can bệnh, khí
cơ không thông, khí huyết bị ứ trệ làm tổn thương
huyết lạc khiến cho hạ sườn bên phải đau, không nằm
nghiêng được. Nhiệt tà làm hại tân dịch gây ra khát.
Khí uất, huyết trệ, tam tiêu thuỷ đạo không thông
gây ra nước tiểu vàng. Rêu lưỡi trắng, vàng, mạch
Huyền Hoạt là dấu hiệu thấp nhiệt uất trệ ở Can.
Điều
Trị: Thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tán kết.
Sài hồ thanh can tán
Cam thảo
Sài hồ
Chi tử
Sinh địa
Hoàng liên
Thanh bì
Liên kiều
Xích thược
Long đởm thảo
Lượng bằng nhau. Tán bột. Ngày
uống 8-12g.
Gia Giảm: Hạ sườn phải đau:
thêm Diên hồ sách, Mộc hương.
Nguyên
nhân: do hoả độc mạnh, phần âm bị tổn thương, khí bị
tiêu, huyết bị tổn hại gây nên.
Chứng:
Lạnh run, sốt cao, ra mồ hôi, hông sườn đầy, đau,
đau lan đến bụng dưới hoặc nách, vai, miệng khát,
tâm phiền, muốn nôn, nôn, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng,
mạch huyền Sác.
Biện
Chứng: Tà chính giao tranh, mủ hình thành vì vậy gây
ra rét run, sốt cao, ra mồ hôi. Tà khí ngăn trở ở
kinh lạc, khí huyết bị ứ trệ, hoá thành mủ khiến cho
Can tạng sưng trướng, hông sườn đau. Tạng và kinh
Can bị uất trệ không thông gây ra đau lan xuống bụng
dưới hoặc lên nách, vai. Nhiệt làm hại phần âm vì
vậy gây ra khát, tâm phiền, nhiệt độc xâm nhập vào
Vị. Lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác là dấu
hiệu nhiệt độc thịnh.
Điều
Trị: Thanh nhiệt, giải độc, khứ hủ, bài nùng.
Hoàng Liên Giải Độc Thang (Ngoại
Đài Bí Yếu):
Chi tử
12
Hoàng cầm
12
Hoàng liên
12
Hoàng bá
8
Sài hồ
8
Bại tương thảo
8
Ngư tinh thảo
20
Đông
qua nhân
8
Ý dĩ nhân
8
Đào nhân
8
Sắc uống.
* Gia Giảm:
. Nhiệt độc hoả thịnh xâm nhập
vào Tâm bào gây ra hôn mê, nói cuồng: thêm Ngưu
Hoàng Thanh Tâm Hoàn hoặc Chí Bảo Đơn.
. Chính khí không thắng nổi tà
khí, biểu hiện sắc mặt vàng, gầy ốm, tinh thần uỷ mị,
mồ hôi tự ra: thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đương qui.
. Ho ói ra mủ, máu, áp xe bị
vỡ: thêm Triết bối mẫu, Cát cánh.
Nguyên
nhân: Do tà độc lâu ngày làm cho Vị âm bất túc, Tỳ
dương hư tổn, khí huyết đều suy.
hứng: hạ sườn phải hơi đau,
miệng hơi khô, lưỡi hồng, rêu lưỡi ít, mạch Tế Nhược.
Biện chứng: Tà độc nhập vào
Can, làm cho khí huyết bị tổn hại, nhiệt làm tổn
thương phần âm khiến cho khí huyết đều hư, khí âm
bất túc biểu hiện bằng hông sườn bên phải đau, mỏi
mệt không có sức, miệng khô, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch
Tế Nhược.
Điều
Trị : Ích khí, dưỡng huyết, giải độc.
Thánh Dũ Thang (Tỳ Vị Luận):
Bạch thược
30
Nhân sâm
30
Đương qui
20
Hoàng kỳ
20
Xuyên khung
30
Thục địa
30
Thêm Bại tương thảo 20g, Bồ
công anh 30g.
Sắc uống
Gia Giảm:
. Lưỡi hồng, ít nước miếng:
thêm Thiên hoa phấn, Ngọc trúc.
. Bụng dưới trướng: thêm Cốc
tinh thảo,
Tiên
liệu
+ Nếu phát hiện sớm, điều trị
kịp thời, đúng cách, bệnh sẽ phục hồi nhanh.
+ Nếu không điều trị đúng hoặc
kịp thời, gan sẽ biến thành ổ mủ to, có khi chứa
trên 2~3 lít mủ mầu sô cô la, tanh, không thối.
+ Bệnh nhân có thể cầm cự
trong một thời gian khá dài nhưng sức khoẻ ngày càng
suy kiệt.
+ Áp xe sẽ tiến triển và gây
ra các biến chứng: rò vào cơ hoành, màng phổi, phổi,
vỡ vào màng bụng, rất nguy hiểm, tử vong cao.
áp xe gan, thuốc chữa bênh áp xe gan,
thuốc chữa áp xe gan, thuốc áp xe gan, chữa áp xe gan, đông y chữa áp xe
gan, ap xẹ gạn, thuoc chua ap xẹ gạn, thuoc chua ap xẹ gạn, thuoc ap xẹ
gạn, chua ap xẹ gạn, dong y chua ap xẹ gạn,Thuốc Đông y, đông y chữa
bệnh mãn tính, chữa bệnh bằng thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y,
dong y chua benh, chua benh bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược,
phòng khám, phòng khám nguyễn hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám
online, dong y, đông y gia truyền, phòng khám gia truyền, phong kham
nguyen huu toan, phong kham dong y, phong kham gia truyen,đau thần kinh,
viem, viem tuyen vu, viem than, viem gan, viem hong, viem xoang ,đau
thần kinh tọa, đau đầu, dau, dau xuong, dau khop, dau than kinh, dau
than kinh toa, dau, apxegan, thuocchuabenhapxegan, benhapxegan,
chuabenhapxegan
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: 116B Đà nẵng Quận Ngô quyền - Hải phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP