Đái tháo
đường là gì?
Bệnh đái
tháo đường thuộc phạm trù “Tiêu khát” của Y học cổ truyền. Tiêu khát
là sự đốt cháy tân dịch ở bên trong cơ thể (tiêu) từ đó mà nhu cầu
cơ thể đòi hỏi phải ăn nhiều, uống nhiều để bù đắp tân dịch. Tiêu
khát có nhiều hình thức đốt cháy, tiêu hao tân dịch, có thể chủ yếu
bằng đường niệu, bằng đường sốt, ra mồ hôi hoặc nung đốt phần âm
dịch làm cơ thể luôn luôn nống hơn bình thường… Cuối cùng gây ra 3
chứng trạng chủ yếu: Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhanh
trong nước tiểu có nhiều đường nên thấy ruồi và kiến bâu.
Nguyên nhân
và cơ chế sinh bệnh
Bệnh này
chủ yếu do cơ thể vốn âm hư, ngũ tạng nhu nhược lại do ăn uống không
điều độ, nhiều chất béo, ngọt. Nguyện vọng tình cảm mất điều hoà,
lao động, tình dục quá độ mà dẫn tới thận âm suy hư, phế vị táo
nhiệt. Có âm hư là gốc, táo nhiệt là ngọn. Bệnh kéo dài lâu ngày, âm
tổn tới dương, dương hư hàn ngưng có thể dẫn tới ứ huyết ở bên trong.
Biến chứng
của bệnh đái đường
a. Biến
chứng nhiễm trùng
Có thể từ
những mụn nhọt rất thường, những vết thương bề ngoài không đáng kể
đến nhiễm trùng quan trọng hơn như hoại thư và lao phổi.
b. Biến
chứng về thoái hoá
Tình trạng
thoái hoá thường xảy ra ở các động mạch hoặc các bộ phận khác, nhất
là mắt.
c. Biến
chứng về thần kinh
Có thể từ
viêm dây thần kinh đơn thuần đến những biến chứng quan trọng hơn như
hôn mê do đái đường.
d. Hôn mê
do đái đường (Toan – Xeton máu)
Xảy ra vào
dịp:
- Nhiễm
trùng hoặc nhiễm đôc nặng.
- Chấn
thương tinh thần.
- Áp dụng
chế độ giảm gluxit quá khắt khe
- Có khi
không có nguyên nhân gì cả.
Điều trị đái
tháo đường theo y học cổ truyền
Theo Y học
cổ truyền tiêu khát gồm nhiều thể bệnh và có pháp điều trị và bài
thuốc cho từng thể bệnh như sau:
Thể phế táo
vị nhiệt
(Thiên về thượng tiêu)
* Chứng
trạng: Phiền khát uống nhiều, hay đói, hình dáng gầy còm, miệng khô
lưỡi ráo, mép lưỡi nhọn đỏ, mạch hoạt sác.
* Pháp điều
trị: Nhuận táo dưỡng âm thanh nhiệt
* Bài thuốc:
Bạch hổ gia nhân sâm thang phối hợp ích vị thang gia giảm: Sinh
thạch cao 60g (sắc trước), Cam thảo 6g, Sa sâm 15g, Sinh địa 30g,
Thiên hoa phấn 15g, Tri mẫu 15g, Đẳng sâm 15g, Mạch đông 12g, Ngọc
trúc 15g.
Thể thận âm
suy (thiên về hạ tiêu)
* Chứng
trạng: Tiểu nhiều lần lượng nhiều, nước tiểu ngầu đục như nước đường,
eo lưng mỏi mất sức, miệng khô lưỡi đỏ, hoặc lưỡi nhẵn đỏ không rêu,
mạch tế sác.
* Pháp điều
trị: Tư dưỡng thận âm
* Bài thuốc:
Lục vị Địa hoàng hoàn gia giảm: Sinh đại 15g, Hoài sơn dược 30g,
Phục linh 12g, Trạch tả 12g, Nữ trinh tử 12g, Bạch thược 12g, Thục
địa 15g, Sơn thù du 15g, Đan bì 9g, Cẩu kỷ tử 12g, Đồng tật lê 12g.
Thể trường
vị hoả uất (Thiên về trung tiêu)
* Chứng
trạng: Ăn nhiều, chóng đói, cồn ruột, gầy sút nhanh.
* Phương
pháp điều trị: Dưỡng vị sinh tân
* Bài thuốc:
Tăng dịch thăng: Huyền sâm 32g, Sinh địa 32g, Mạch môn 32g, Thiên
hoa phấn 32g, Hoàng liên 10g.
Thể âm
dương đều hư:
* Chứng
trạng: Tiểu nhiều lần, nước tiểu vẩn đục như nước đường, sắc mặt xám
đen hoặc trắng bệch, hoặc có phù, hoặc đi ngoài nát loãng, nặng thì
đi lỏng, sợ rét sợ lạnh, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm tế vô lực.
* Pháp điều
trị: Tư dưỡng thận âm, ôn bổ thận dương.
* Bài thuốc:
Kim quỹ thận khí hoàn: Thục đia 30g, Sơn thù du 15g, Đan bì 9g, Nhục
quế 3g (nuốt), Sơn dược 30g, Phục linh 15g, Trạch tả 9g, Phụ tử 6g (sắc
trước)
Thể ứ huyết
* Chứng
trạng: Quá trình bệnh lâu ngày, hoặc bệnh này phối hợp với biến đổi
bệnh huyết quản tim mạch não, chất lưỡi tối hoặc có ban ứ, chấm ứ,
mạch tế sáp.
* Pháp điều
trị: Hoạt huyết hoá ứ
* Bài thuốc:
Cách hạ trục ứ thang gia giảm: Ngũ linh chi 15g, Xuyên khung 9g,
Đương quy 12g, Đào nhân 9g, Đan bì 9g, Diên hồ sách 9g, Hồng hoa 9g,
Xích thược 9g, Ô dược 6g, Chỉ xác 9g.
Các bài
thuốc trên cho vào 1 lít nước, sắc lấy n300ml nước thuốc, chia uống
3 lần trong ngầy sau khi ăn 30 phút.
(theo
suckhoedoisong)