Biện chứng đông y:
Thấp nhiệt, tức trở trung tiêu.
Cách trị: Thanh nhiệt giảm độc thông
phủ.
Đơn thuốc: Gia giảm đại thừa khí thang.
Công thức: Sinh đại hoàng 9g (cho vào
sau), Nguyên minh phấn 9g (chiêu với nước huốc), Chỉ thực 12g, Sinh sơn
tra 15g, Hồng đằng 30g, Bại tương thao 30g.
Sắc uống mỗi ngày 2 thang.
Hiệu quả lâm sàng:
Trịnh XX, nữ, 23 tuổi. Khám ngày 9-3-1973. Người bệnh buổi trưa hôm
trước ǎn quá nhiều thịt mỡ, đến đêm đau bụng trên dữ dội, cự án, đau lan
ra vùng sống lưng, lợm giọng buồn nôn, miệng khô, bí đại tiện. Hiện sốt
38 độ C, xét nghiệm bạch cầu 17100/mm3, trung tính 82%, amylase, huyết
thanh 1600 đơn vị. Mạch tiểu huyền, rêu lưỡi mỏng vàng bẩn. Đây là do
thấp nhiệt cùng tắc trở trung tiêu, lan đến tụy tạng, không thông được
tì đau. Cấp tốc dùng phép thanh nhiệt giải độc thông phủ, cho dùng bài
thuốc Gia giảm đại thừa khí thang, uống hết 1 thang liền bớt đau bụng,
uống hết 2 thang đau bụng khỏi hẳn, hết sốt. Xét nghiệm máu thường
quy và amylase huyết thanh đều trở lại bình thường.
Bàn luận: Viêm tụy cấp tính đối với
đông y thuộc phạm trù "vị tâm thống", cổ nhân có câu "đau tâm vị phải
dụng hiếp dược". Chữa bằng bài thuốc Gia giảm đại thừa khí thang dùng
cho gần 100 trường hợp bệnh viêm tụy cấp tính, luôn thu được kết quả
tốt. Trong bài thuốc, vị Đại hoàng đắng hàn tả hỏa giải độc, tẩy sạch dạ
dày và ruột, Mang tiêu mặn hàn, nhuận táo, nhuyễn kiên, phá kết, Chỉ
thực đắng ôn, hành khí phá kết, trừ đầy; Sơn tra tiêu thức ǎn thịt,
thoát mủ tiêu thũng, 6 vị trên phối hợp thuốc tuy ít nhưng có tác dụng
đúng bệnh, vì thế mà khỏi bệnh.
VIÊM TỤY CẤP
Biện chứng đông y: Bạo ẩm
thương tì, tì vị không thực hiện được chứng nǎng thông giáng khí.
Cách trị: Thông lý công hạ.
Đơn thuốc: Giảm vị đại hãm
hung thang.
Công thức: Đại hoàng phấn
(sống) 9-15g, Huyền minh phấn 15-30g, hai thứ bột thuốc pha vào 200 ml
nước, chia uống lần trong 6 giờ. Nếu sau 6 giờ mà không đi ngoài được
thì lại dùng 1 lượng thuốc trên pha vào 200 ml nước, uống 100 ml, còn
100 ml thụt giữ lại ở ruột, lấy đi ngoài làm chuẩn. Sau khi đi ngoài
được mọi chứng cấp tính sẽ giảm bớt rõ rệt. Lúc đó lại điều trị theo
biện chứng, có thể tiếp tục chữa bằng bài thuốc Gia giảm đại sài hồ
thang cho đến khi khỏi.
Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi
điều trị 100 bệnh nhân, trong đó có 6 trường hợp viêm tụy xuất huyết cấp
tính, amylase niệu phần lớn trên 1024 đơn vị (Phương pháp Winslow). Điều
trị bằng cách trên, toàn bộ đều khỏi bệnh, người khỏi nhanh nhất mất 4
ngày, người lâu nhất 60 ngày. Bình quân sau 3,26 ngày điều trị amylase
giảm xuống mức bình thường.
VIÊM
TỤY CẤP
Biện chứng đông y: Nhiệt
nội không thoát hết, khí âm đều hư, ra mồ hôi vong dương.
Cách trị:
Dưỡng âm thanh nhiệt, ích khí liễm hãn.
Đơn thuốc: Sinh mạch tán hợp nhị giáp
long mẫu thang gia giảm.
Công thức:
Mạch đông 15g, Ngũ vị tử 9g, Bạch thược 12g, Hoàng kỳ 18g, Miết giáp
10g, (sắc trước), Bạch vi 6g, Thạch hộc 10g, Long cốt, Mầu lệ (nung) mỗi
thứ 30g, (sắc trước).
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Với bệnh nhân dương hư muốn thoát thì thêm Phụ tử; khí hư nặng thì thêm
Nhân sâm (hay Đảng sâm); huyết hư thì thêm Thục địa, Đương quy; huyết
nhiệt thì thêm Sinh địa, Đơn bì; nhiệt độc nội thịnh hoặc thấp nhiệt uẩn
chứng thì tùy chứng mà thêm thuốc thanh nhiệt giải độc hay thanh nhiệt
hóa thấp.
Hiệu quả lâm sàng: Ngô XX, nam, 58 tuổi,
nhân viên. Người bệnh ǎn cơm trưa ở nhà bạn, lúc về giữa đường đột nhiên
thấy ớn lạnh, toàn thân khó chịu, tiếp theo là đau vùng bụng trên và
sườn. Ngay hôm đó chuyển đến khám chữa ở một bệnh viện, cho uống
tetramycin, sau vẫn không chuyển. Hôm sau kiểm tra: bạch cầu 18000/mm3,
trung tính 84%, lympho 12%, đơn nhân 4%. Kiểm ta nước tiểu: bilirubin
dương tính, urohilinogen 1:70, xử lý theo bệnh viêm túi mật cấp tính,
cho dùng tetracyclin, thuốc nước lợi đởm... Dùng thuốc xong vẫn không có
hiệu quả rõ rệt. Bệnh nhân cảm thấy sợ lạnh, phát sốt, ra mồi hôi, lườn
và bụng đau dữ hơn. Đến ngày thứ tư mới đến đây xin chữa. Qua kiểm tra,
số lượng bạch cầu vẫn cao, amylase niệu 1200 đơn vị, chẩn đoán là viêm
tụy cấp tính. Cho thuốc kháng sinh, truyền dịch, tuy sốt có lui, bụng
cũng bớt đau, nhưng vẫn ra nhiều mồ hôi và ngày càng nhiều hơn. Theo đó
các chứng cũng trầm trọng thêm. Gia đình bệnh nhân xin cho dùng thuốc
đông y. Xem bệnh nhân dáng tiều tụy, sắc mặt trắng bệch, vẻ mệt mỏi, tứ
chi không ấm, ǎn uống kém, miệng khát đòi nước uống, tìm hồi hộp, mất
ngủ, bụng sườn đau nhất là phía bên trái. Lưỡi bệu, rìa lưỡi có hằn
rǎng, giữa lưỡi không có rêu, xung quanh có rêu vàng mỏng, mạch tế sác
vô lực.
Người nhà kể thay:
ngày thứ hai từ khi phát bệnh có ra mồ hôi, ban ngày ra ít ban đem ra
nhiều, khi tỉnh thì ít mồ hôi, hễ cứ ngủ là mồ hôi nhiều. Tới hôm gần
đây đi ngủ mồ hôi ra ướt đẫm như vừa dội nước tắm, mỗi tối phải thay
quần áo lót đến 2-3 lần. Tổng hợp mạch chứng, bệnh nhân bị đau sườn bụng
cấp tính (viêm tụy cấp) vì bệnh tình kéo dài nên lúc này chủ yếu chứng
thuộc âm hư nhiệt uất, dương khí suy, phải dưỡng âm thanh nhiệt, ích khí
liễm hãn. Cho dùng bài Sinh mạch tán hợp Nhị giáp long mẫu thang gia
giảm, uống liền 2 thang, mồ hôi giảm nhiều, ngủ tốt hơn, nhưng vẫn thấy
khát đòi uống nước. Giữ nguyên bài thuốc cũ cho thêm Thiên hoa phấn 9g,
uống 1 thang mồ hôi tiếp tục giảm, tứ chi từ lạnh chuyển sang ấm, giấc
ngủ khá yên ổn, ǎn uống khá hơn, đau bụng, sườn cũng đỡ. Chỉ còn mệt mỏi,
yếu sức, tinh thần không phấn chấn, mạch tế vô lực. Cách chữa có hiệu
quả, vẫn dùng bài thuốc này bỏ Thiên hoa phấn mà thêm Đảng sâm 15g, uống
1 thang mồ hôi dứt hẳn, tinh thần chuyển biến tốt, các chứng lui dần.
Tiếp tục thanh nhiệt sinh tân, điều dưỡng khí huyết để củng cố về sau.
Bàn luận:
Qua thực tiễn lâm sàng nhận thấy dùng bài Sinh mạch tán hợp nhị giáp
long mẫu thang gia giảm điều trị viêm tụy cấp không những có thể áp dụng
vào các giai đoạn phát triển của bệnh mà đối với viêm tụy cấp kèm choáng
thời gian sớm thì điều trị vẫn có kết quả rất tốt.
Trong bài thuốc, vị Mạch đông
tưới nhuận, Thạch hộc dưỡng âm, dùng tính ngọt, hàn của nó để thanh
nhiệt sinh tân. Miết giáp phối hợp với Bạch vi ích âm tiết nhiệt, hợp
với Bạch thược có thể trừ được hư nhiệt ở phần âm; Long cốt, Mẫu lệ an
thần, nung lên sẽ kiêm thêm tác dụng thu liễm, làm hết mồ hôi, lại cho
Ngũ vị phụ tá vào càng tǎng cường khả nǎng thu mồ hôi, an thần; Hoàng kỳ
ích khí cố biểu, tǎng thêm lượng dụng, lại hỗ trợ với Long mẫu nung, Ngũ
vị tử sẽ càng phát huy công hiệu ích khí liễm nhiếp. Tổng hợp tính nǎng
các vị thuốc sẽ đạt được tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt, ích khí, liễm
hãn.
VIÊM TỤY CẤP
Biện chứng đông y:
Can uất khí trệ, nhiệt náu ở tì vị.
Cách trị:
Thư can lý khí, thanh nhiệt táo thấp, thông lý công hạ.
Đơn thuốc:
Thanh di thang.
Công thức:
Sài hồ 16g, Hoàng cầm 10g, Hồ liên 10g, Bạch thược 15g, Mộc hương 10g,
Nguyên hồ 10g, Đại hoàng 15g (cho sau), Mang tiêu 10g (chiêu với nước
thuốc).
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Với người đau nặng có thể tùy tình hình thêm thuốc hành khí hoạt huyết;
nhiệt nặng thì thêm thuốc thanh nhiệt giải độc; có giun thì thêm Sử quân
tử, Khổ luyện cǎn bì, Binh lang; nếu có kèm huyết hoại tử mới được cho
thêm Đại hãm hung thang (Cam toại mạt 1g, Đại hoàng 15-30g cho sau, Mang
tiêu 10-15g chiêu uống với nước thuốc).
Hiệu quả lâm sàng:
Tính từ nǎm 1961 đến nay, đã dùng bài Thanh di thang có gia giảm để điều
trị lâm sàng chữa các loại viêm tụy cấp tính, tổng cộng hơn 1.100 trường
hợp. Phân tích thống kê cho thấy: chữa khỏi lâm sàng 72%, khỏi về cơ bản
21,5%, điều trị bằng phẫu thuật hay giữa chừng chuyển sang mổ 2,3%, tử
vong 0,9%. Còn lại là chữa ở phòng khám nên không theo dõi được kết quả.