Triệu chứng: đầu nhức,
chóng mặt, yếu sức, thở ngắn, lười nói, tự đổ mồ hôi, tim đập, trong
lòng hoảng loạn không yên, ngủ ít hay mơ, sợ gió sợ lạnh, tay chân không
ấm, lúc vận động thì thở gấp như xuyễn, mặt trắng bệnh, lưỡi nhạt non mà
ít rêu, mạch hơi nhược.
Cách trị: Ôn bổ dưỡng
khí.
Đơn thuốc: Ôn dương ích
khí phương.
Đẳng sâm
40
Hoàng kỳ
50
Cam thảo
10
thăng ma
10
tôtử
10
Qui đầu
15
Bạch truật
15
Trần Bì
15
Xuyên khung
5
Phục thần
30
Bán hạ
10
Quế chi
15
Ngũ vị
15
Viễn trí
15
Táo nhân
15
Bá tử nhân
15
Sắc uống, mỗi ngày 1
thang.
Công thức: Đảng sâm 40g,
Hoàng kỳ 50g, Cam thảo 10g, Thăng ma 10g, Tử tô 10g, Đương qui 15g, Bạch
truật 15g, Trần bì 15g, Xuyên khung 5g, Phục thần 30g, Bán hạ 10g, Quế
chi 15g, Ngũ vị tử 15g, Viễn chí 15g, Táo nhân 15g, Bá tử nhân 15g.
Hiệu quả lâm sàng: Lý
XX, nữ, 24 tuổi, sơ chẩn ngày 15/2/1978. Bốn năm trước đây, sốt nhẹ kéo
dài mãi không lui. Thân nhiệt lúc nào cũng xấp xỉ 37 độ C, đã chữa bằng
thuốc tây trước sau không hạ nhiệt. Triệu chứng biểu hiện là: đầu nhức,
chóng mặt, yếu sức, thở ngắn, lười nói, tự đổ mồ hôi, tim đập, trong
lòng hoảng loạn không yên, ngủ ít hay mơ, sợ gió sợ lạnh, tay chân không
ấm, lúc vận động thì thở gấp như xuyễn, mặt trắng bệnh, lưỡi nhạt non mà
ít rêu, mạch hơi nhược. Mạch chứng của dương hư. Đó là căn cứ để chẩn
đoán là dương hư. Dương lui hãm xuống, thanh dương thì không thể thăng
lên ở đầu mặt, gây đầu nhức chóng mặt, sắc mặt trắng bệch. Dương nhược
ắt khí nhược, khí nhược ắt công năng của cơ thể suy thoái làm cho hơi
thở ngắn, lười nói, toàn thân yếu mệt. Tâm khí hư, ắt tim đập trong lòng
hoảng loạn ngủ ít mơ nhiều. Vệ khí hư ắt không thể cổ biểu nên mồ hôi tự
ra. Dương hư mà sao lại nóng? Đó là vì dương khí của cơ thể trong tình
trạng bình thường thì không ngừng toả ra ở cơ biểu, dương hư không đủ
sức vượt ra ngoài mà uất lại ở đa cơ vì vậy mà 4 năm nay sốt nhẹ không
lui. Cho uống "Ôn dương ích khí phương" lấy ôn dương bổ khí để trừ khử
gốc bệnh. Khám lần thứ hai: ngày 20/2/1978, người bệnh cho biết đã uống
hết 3 thang "Ôn dương ích khí phương", thân nhiệt hạ xuống còn 36,5 độ
C, chứng sốt nhẹ 4 năm nay đã khỏi hẳn, hiện chỉ còn lại chứng tim đập
nhanh, ngoài ra không còn gì khó chịu. Lại cho bài "Quế chi long cốt mẫu
lệ thang gia giảm" để củng cố.
Sốt nhẹ (sốt mùa hè)
Biện chứng đông y: Thư
nhiệt hiệp thấp.
Cách trị: Tuyên khai ôn
hóa.
Đơn thuốc: Thanh tuyên
ôn hóa ẩm.
Liên kiều
15
Bạch linh
9
hà diệp
6
Hạnh nhân
9
bội lan
9
Mao căn
12
Trần Bì
6
ý nhân
9
trúc diệp
6
Cam thảo
3
song hoa
6
Sắc uống thay nước trà.
Công thức: Liên kiều
15g, Phục linh 9g, Hà diệp 6g (có thể dùng 1 tàu lá sen tươi), Hạnh nhân
9g, Bội lan 9g, Mao căn 12g, Trần bì 6g, ý nhân 9g, Trúc diệp 6g, Cam
thảo 3g, Song hoa 6g.
Bàn luận: Mùa hè nóng
nực mà sốt (sốt mùa hè) không lui và buổi chiều sốt tăng, bụng trên tắc
khó chịu, khát nhiều song uống ít, hoặc cứ đến mùa hè thu thì mình nóng
hoặc không thoải mãi, rêu lưỡi bẩn, mạch trệ, hoặc cảm phải thứ thấp mà
sốt nhẹ không lui, đều có thể dùng bài này. Các chứng kể trên phần lớn
là do thấp và nhiệt kết hợp gây lên, nếu không dùng phép khinh thanh
tuyên hoá, một mặt thanh nhiệt, một mặt dùng thuốc phương hóa thấp tà
thì không thể có công hiệu. Còn nếu có cả tiểu tà có thể thêm Lô căn và
Bạc hà. Nếu tiểu tiện đỏ và ít thì có thể thêm Hoạt thạch (Thanh tuyên
ôn hóa ẩm) cũng có thể chữa bệnh nhân bị gan mạn tính có các chứng can
nhiệt tì thấp, biểu hiện chủ yếu là ăn ít, toàn thân mệt mỏi, sườn đau
bụng chướng, miệng đắng lưỡi khô, buồn nôn, tay chận nặng nề yếu sức,
lưỡi bẩn dính, trong miệng cũng bẩn dính. Trên cơ sở bài trên mà thêm
Nhân trần, Sa nhân. Còn nếu dưới vùng dưới tim mà đầy tắc thì lúc đó có
thể thêm Uất kim, Qua lâu xác, Chỉ xác.
Cảm mạo
Biện chứng đông y: Ngoại
cảm ôn nhiệt, nội thương phòng sự, biểu lý đều bị tà quấy phá.
Cách trị: Giải biểu
thanh lý, tiết hỏa giải độc.
Đơn thuốc: Gia vị thạch
cao tam hoàng thang.
Thạch cao
15
Hoàng cầm
6
Hoàng liên
6
Hoàng bá
6
Ma hoàng
6
cát căn
15
Chi tử
10
Sắc uống mỗi ngày 1
thang.
Công thức: Thạch cao (sống)
15g, Hoàng cầm 6g, Hoàng liên 6g, Hoàng bá 6g, Ma hoàng 6g, Cát căn 15g,
Sơn chi 10g.
Hiệu quả lâm sàng: Đinh
XX, nam 30 tuổi, công nhân. Bị bệnh từ ngày 13-1-1977, sau khi đi thăm
người nhà ở xa về, đi xe khách đường dài, cơ thể mỏi mệt, ngay tối hôm
về tới nhà tiến hành phòng sự. Ngày hôm sau thấy đau lưng, người mệt mỏi
rã rời, đau đầu, phát sốt, ớn lạnh. Đã tiêm thuốc 4 ngày tại trạm xá mà
không có tác dụng, lại vào bệnh viện huyện chẩn trị 2 ngày, bệnh vẫn
chưa giảm. Lúc đến xin điều trị, thân nhiệt 39,4 oC. Mạch 86lần/phút,
huyết áp 110/70mmHg, mặt đỏ, miệng đắng, môi khô, không ra mồ hôi, kêu
đau đầu không chịu nổi như muốn vỡ ra, tâm phiền, thần cuống, đêm không
chợp mắt, không ăn được, mạch huyền phù, lưỡi đỏ rêu vàng. Lúc đó chữa
theo cảm mạo thông thường nên cho dùng " Sài cát giải cơ thang ". Bệnh
không hề thuyên giảm. Lại hỏi tiền sử, bèn đổi sang điều trị bệnh ôn
nhiệt kèm sắc dục. Cho dùng Gia vị thạch cao tam hoàng thang, dùng 1
thang thì bệnh lui hơn nửa phần. Lại dùng 2 thang nữa, các chứng trên
hết hẳn, người khỏe ra, ăn ngủ được như thường.Bàn luận: Rõ ràng là ca
bệnh trên đây do người mệt mỏi bị lạnh nên nhiễm cảm mạo nặng. Tây y
điều trị theo cảm thông thường không có hiệu quả. Sau kết hợp biện chứng
luận trị đông y nhận thấy tuy là cảm mạo nhưng vì tiến hành phòng sự
ngay sau khi người mệt mỏi bị lạnh, do đó điều trị theo cách chữa bệnh
ôn nhiệt kèm sắc dục thì có hiệu quả tốt. Một thang bệnh giảm, 3 thang
khỏi hẳn. Cũng đã dùng bài thuốc trên chữa cho 4 ca bệnh ôn nhiệt kèm
sắc dục nữa đều đạt hiệu quả tốt.
Cảm mạo
Biện chứng đông y: Ngoại
cảm ôn nhiệt, nội thương phòng sự, biểu lý đều bị tà quấy phá.
Triệu chứng:mặt đỏ,
miệng đắng, môi khô, không ra mồ hôi, kêu đau đầu không chịu nổi như
muốn vỡ ra, tâm phiền, thần cuống, đêm không chợp mắt, không ăn được,
mạch huyền phù, lưỡi đỏ rêu vàng.
Cách trị: Giải biểu
thanh lý, tiết hỏa giải độc.
Thạch cao
15
Hoàng cầm
6
Hoàng liên
6
Hoàng bá
6
Ma hoàng
6
cát căn
15
Chi tử
10
Sắc uống mỗi ngày 1
thang
Đơn thuốc: Gia vị thạch
cao tam hoàng thang.
Công thức: Thạch cao (sống)
15g, Hoàng cầm 6g, Hoàng liên 6g, Hoàng bá 6g, Ma hoàng 6g, Cát căn 15g,
Sơn chi 10g..
Hiệu quả lâm sàng: Đinh
XX, nam 30 tuổi, công nhân. Bị bệnh từ ngày 13-1-1977, sau khi đi thăm
người nhà ở xa về, đi xe khách đường dài, cơ thể mỏi mệt, ngay tối hôm
về tới nhà tiến hành phòng sự. Ngày hôm sau thấy đau lưng, người mệt mỏi
rã rời, đau đầu, phát sốt, ớn lạnh. Đã tiêm thuốc 4 ngày tại trạm xá mà
không có tác dụng, lại vào bệnh viện huyện chẩn trị 2 ngày, bệnh vẫn
chưa giảm. Lúc đến xin điều trị, thân nhiệt 39,4 oC. Mạch 86lần/phút,
huyết áp 110/70mmHg, mặt đỏ, miệng đắng, môi khô, không ra mồ hôi, kêu
đau đầu không chịu nổi như muốn vỡ ra, tâm phiền, thần cuống, đêm không
chợp mắt, không ăn được, mạch huyền phù, lưỡi đỏ rêu vàng. Lúc đó chữa
theo cảm mạo thông thường nên cho dùng " Sài cát giải cơ thang ". Bệnh
không hề thuyên giảm. Lại hỏi tiền sử, bèn đổi sang điều trị bệnh ôn
nhiệt kèm sắc dục. Cho dùng Gia vị thạch cao tam hoàng thang, dùng 1
thang thì bệnh lui hơn nửa phần. Lại dùng 2 thang nữa, các chứng trên
hết hẳn, người khỏe ra, ăn ngủ được như thường.Bàn luận: Rõ ràng là ca
bệnh trên đây do người mệt mỏi bị lạnh nên nhiễm cảm mạo nặng. Tây y
điều trị theo cảm thông thường không có hiệu quả. Sau kết hợp biện chứng
luận trị đông y nhận thấy tuy là cảm mạo nhưng vì tiến hành phòng sự
ngay sau khi người mệt mỏi bị lạnh, do đó điều trị theo cách chữa bệnh
ôn nhiệt kèm sắc dục thì có hiệu quả tốt. Một thang bệnh giảm, 3 thang
khỏi hẳn. Cũng đã dùng bài thuốc trên chữa cho 4 ca bệnh ôn nhiệt kèm
sắc dục nữa đều đạt hiệu quả tốt.
Sốt nhẹ
Biện chứng đông y: Can
đởm khí trệ, chứng bệnh của thiếu dương.
Triệu chứng: sốt nhẹ
phải đi phải lại, váng đầu, rức đầu, ăn xong thì đầy bụng, ăn uống không
ngon, sút cân, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng đắng, họng khô, ngực sườn đau
âm ỉ, người yếu dễ ra mồ hôi, rêu lưỡi mỏng trắng, chất lưỡi đỏ thắm,
mạch huyền.
Cách trị: Sơ can thanh
nhiệt, kiện tì lý khí.
Đơn thuốc: Tiêu sài hồ
thang gia giảm.
Sài hồ
9
Hoàng cầm
15
song hoa
15
Liên kiều
15
song hoa
15
bản lam căn
30
Bán hạ
9
Đẳng sâm
12
Trần Bì
9
thanh hao
12
Chỉ sác
9
tam tieu tiên
9
Nhân sâm
6
Sắc uống mỗi ngày 1
thang.
Công thức: Sài hồ 9g,
Hoàng cầm 15g, Liên kiều 15g, Song hoa 15g, Bản lam căn 30g, Bán hạ 9g,
Đảng sâm 12g, Trần bì 9g, Thanh hao 12g, Chỉ xác 9g, Tiêu tam tiên mỗi
thứ 9 g, Nhân sâm 6g (uống riêng nước).
Hiệu quả lâm sàng: Đã
điều trị 7 ca sốt nhẹ không điển hình như ca dưới đây đều khỏi. Chu XX,
nam, 59 tuổi, cán bộ, 8 tháng trước do sỏi mật nên đã cắt bỏ túi mật,
một tháng trước đây sốt nhẹ (37,1 - 37,5 độ C) không rõ nguyên nhân.
Bạch cầu 6999/mm3, trung tính 72%, lympho 28%, gan có chức năng bình
thường và không có triệu chứng thực thể, chiếu ngực và các xét nghiệm
khác đều không thấy gì bất thường. Đã dùng nhiều thứ thuốc kháng khuẩn
không có công hiệu, xin khám chữa đông y. Căn cứ tình trạng sốt nhẹ phải
đi phải lại, váng đầu, rức đầu, ăn xong thì đầy bụng, ăn uống không ngon,
sút cân, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng đắng, họng khô, ngực sườn đau âm ỉ,
người yếu dễ ra mồ hôi, rêu lưỡi mỏng trắng, chất lưỡi đỏ thắm, mạch
huyền. Đã phân tích các triệu chứng trên, đưa ra phép chữa và cách dùng
thuốc. Cho bài trên 6 thang, thân nhiệt trở lại bình thường, các triệu
chứng giảm nhẹ rõ rệt, lại uống thêm bài trên 8 tháng nữa, thân nhiệt
bình thường bệnh khỏi.
Bàn luận: Người bệnh này
thể chất yếu đuối, lại đã bị cắt bỏ túi mật, tuy đã quá 6 tháng nhưng
chính khí chưa hồi phục, như vậy bất luận tình chí nội thương hoặc tà
thừa hư xâm nhập đều có thể làm cho can khí ứ trệ, can chủ vệ sơ tiết,
tính thích điều đạt, ứ lâu ắt có thể hóa nhiệt phát thành chứng bệnh của
thiệu dương. Sách "Thương hàn luận" nói: "Thiếu âm mà bị bệnh thì miệng
đắng họng khô, mắt hoa vậy", lại viết "hàn nhiệt đi đi lại lại, sườn
ngực đầy khó chịu, chẳng muốn ăn uống, tâm phiền muốn nôn... thì phải
dùng Tiêu sài hồ thang để chữa vậy". Cách trị ca bệnh này là theo phép
của Tiêu sài hồ thang, lại kết hợp với bệnh chứng cụ thể của người bệnh
là dùng các thuốc phù chính hòa trung và thanh nhiệt giải độc, lấy sài
hồ, Thanh hao để giải uất nhiệt của thiếu dương, Bản lam căn, Liên kiều,
Hoàng cầm, Song hoa giải độc kháng khuẩn để thanh trừ nội tà của thiếu
dương, Nhân sân, Đảng sâm, Cam thảo bổ khí hòa trung tăng cường sức
kháng bệnh của cơ thể, Trần bì, Bán hạ, Tiêu tam tiên, Chỉ xác kiện tì
hòa vị, tiêu trừ các triệu chứng ở đường tiêu hóa. Phép điều trị và
thuốc phù hợp với bệnh làm tăng tác dụng của thuốc, vừa công vừa bổ, đem
lại kết quả nhanh chóng.
Sốt nhẹ
Biện chứng đông y: Khí
hư phát nhiệt.
Triệu chứng: thở ngắn,
lười nói, ăn giảm, tinh thần mệt mỏi, yếu sức, phân mềm, lỏng mạch lui
hoặc hư sác vô lực, có lúc cũng thấy miệng khô môi đỏ, lưỡi đỏ dày
Cách trị: Bổ khí thăng
đề.
Đơn thuốc: Bổ trung ích
khí thang.
Hoàng kỳ
30
Bạch truật
9
Trần Bì
9
thăng ma
6
Sài hồ
10
Đẳng sâm
12
Đương qui
9
Cam thảo
9
Sắc uống mỗi ngày 1
thang.
Công thức: Hoàng kỳ 30g,
Bạch truật 9g, Trần bì 9g, Thăng ma 6g, Sài hồ 10g, Đảng sâm 12g, Đương
qui 9g, Cam thảo 9g.
Bàn luận: Những trường
hợp sốt không rõ nguyên nhân mà không lui dùng phép bổ khí thăng đề,
uống bổ trung ích khí thang phần lớn đạt kết quả như mong muốn. Kiểu sốt
nhẹ này thân nhiệt nói chung trên dưới 38 độ C mà lâu ngày không khỏi,
bạch cầu đều bình thường, đồng thời có những triệu chứng thở ngắn, lười
nói, ăn giảm, tinh thần mệt mỏi, yếu sức, phân mềm, lỏng mạch lui hoặc
hư sác vô lực, có lúc cũng thấy miệng khô môi đỏ, lưỡi đỏ dày v.v....
rất dễ chẩn đoán nhầm là âm hư, cho dùng thuốc dưỡng âm thanh nhiệt
thường vô hiệu hoặc lại sốt nặng thêm. Dùng "Bổ trung ích khí" để chữa
bệnh này quan trọng nhất là dùng lượng thuốc hợp lý. Lượng Hoàng kỳ phải
cao, nói chung trên dưới 30g, Sài hồ trên dưới 10g, Sài hồ vốn có thể
thanh nhiệt nhưng sốt do hư khí mà nếu không cùng dùng với Hoàng kỳ thì
khó có công hiệu, đây chính là phép "Cam ôn đại nhiệt". Những điều kể
trên là kinh nghiệm của cụ Trương Hải Phong.
Sốt
nhẹ
Biện chứng đông y: Ôn tà
phạm phế, chuyển ngược lên tâm bảo, tổn thương đến âm của can thận, ôn
tà lâu ngày hư nhiệt không lui.
Triệu chứng:thần kinh
suy sụp, mặt vàng bợt, người gày gò, mạch trầm tế mà hơi sác, chất lưỡi
đỏ non,
Cách trị: Tư âm thanh
nhiệt.
Đơn thuốc: Thanh cốt tán
gia giảm.
Địa cốt bì
15
thanh hao
5
tri mẫu
12
Đan bì
12
hoài ngưu tất
10
thái tử sâm
15
Mạch môn
10
Ngũ vị
6
phi hoạt
thạch
10
Cam thảo
3
Sắc uống mỗi ngày 1
thang.
Công thức: Địa cốt bì
15g, Thanh hao 5g, Tri mẫu 12g, Đơn bì 12g, Hoài ngưu tất 10g, Thái tử
sâm 15g, Mạch đông 10g, Ngũ vị tử 6g, Phi hoạt thạch 10g, Cam thảo 3g.
Hiệu quả lâm sàng: Đoạn
XX, nam, 30 tuổi, cán bộ. Tháng 9 năm 1979 đột nhiên sốt cao, thân nhiệt
39 độ C, điều trị ngay tại bệnh xá đơn vị. Khởi đầu chữa theo cảm mạo,
theo dõi mấy ngày không hiệu quả phải vào bệnh viện. Qua nhiều xét
nghiệm loại trừ các bệnh truyền nhiễm virút, vi khuẩn, rickettsia và các
bệnh phong thấp nhiệt, bệnh máu, bệnh viêm gan. Tuy đã hội chẩn nhiều
lần song chưa có chẩn đoán xác định, phải cho điều trị triệu chứng và
nâng sức, nằm bệnh viên hơn 2 tháng sốt cao lui dần, thân nhiệt xuống
đến 37,5 độ C thì xuất viện. Sau khi xuất viện cứ sốt nhẹ mãi không dứt.
Ngày 25/3/1980 đến khám bệnh viện chúng tôi, thấy thần kinh suy sụp, mặt
vàng bợt, người gày gò, mạch trầm tế mà hơi sác, chất lưỡi đỏ non, đến
khám 8 lần. dùng "Thanh cốt tán gia giảm" tất cả 24 thang, thân nhiệt
giảm xuống dưới 37 độ C, theo dõi 1 tuần lễ chưa thấy lên cao, hết cả
chứng váng đầu, tim nhanh, sức khỏe được phục hồi.
Bàn luận: Sốt là triệu
chứng thường thấy trên lâm sàng, có thể phát sinh trong nhiều quá trình
bệnh lý. Đông y qui nạp về hai phương diện "ngoại cảm" và "nội thương",
sốt do nội thương thì nhiệt độ thường thấy là sốt nhẹ, nguyên nhân bệnh
lý phần nhiều là thể chất hư nhược hoặc nhiệt bệnh lâu ngày không khỏi,
đến nỗi âm tinh bị tổn khuyết, trên lâm sàng tương đối hay gặp, ca bệnh
nói trên là thuộc về nhiệt bệnh thương âm, nhưng lại kèm thấp tà kéo dài
(rêu lưỡi trắng hơi vàng) thêm Hoạt thạch, Cam thảo để lợi thấp thanh
nhiệt. Bài Thanh cốt tán này gốc từ cuốn "Chứng trị chuẩn thằng".
Sốt cao
Biện chứng đông y: Tà
nhiệt vào dương minh, đọng ở da thịt.
Triệu chứng:: thân nhiệt
39,2 độ C, mặt đỏ, miêng khô khát, bồn chồn không yên, mồ hôi hầm hập.
Lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô mà dày, sốt cao kéo dài không lui với 4 chứng
là người nóng, miệng khát, ra mồ hôi, mạch hoạt sác mà dại,
Công thức: Cam hàn thanh
nhiệt.
Đơn thuốc: Thanh nhiệt
thang.
sinh Thạch cao
50
tri mẫu
10
Cam thảo
10
ngạch mễ
100
Hoàng liên
5
Hoàng cầm
10
Chi tử
10
Hoàng bá
10
Sinh khương
3lát
Sẵn uống mỗi ngày 1
thang.
Công thức: Sinh thạch
cao 50g, Tri mẫu 10g, Cam thảo 10g, Ngạnh mễ 100g (bỏ bao mà sắc), Hoàng
liên 5g, Hoàng cầm 10g, Sơn chi 10g, Hoàng bá 10g, Sinh khương 3 lát để
dẫn thuốc.
Hiệu quả lâm sàng:
Khương XX, nam, 14 tuổi, học sinh, sơ chẩn ngày 2/3/1978, cho biết sau
khi phải cảm thì sốt cao, đã dùng các thuốc kháng sinh để giải nhiệt
chấn thống và truyền dịch để điều trị, nhưng vẫn sốt cao trên 39,2 độ C,
kéo dài 8 ngày không lui, cả nhà hoang mang lo sợ.
Các triệu chứng hiện nay là: thân nhiệt 39,2 độ C,
mặt đỏ, miêng khô khát, bồn chồn không yên, mồ hôi hầm hập. Lưỡi đỏ sẫm,
rêu vàng khô mà dày, sốt cao kéo dài không lui với 4 chứng là người
nóng, miệng khát, ra mồ hôi, mạch hoạt sác mà dại, có thể chẩn đoán là
chứng nhiệt ở dương minh "Nội kinh" viết: nhiệt ắt bình phu hoãn, lỗ
chân lông mở, mồ hôi ra nhiều, tà nhiệt vào dương minh đọng ở da thịt
không khử được, làm cho người nóng cao không lui. Thân nhiệt không lui
ắt bì phu tri hoãn, hoãn ắt lỗ chân lông mở và ra mồ hôi do đó mồ hôi
hầm hập. Mồ hôi ra và nhiệt thịnh ắt hại đến tân dịch làm cho miệng khát
mà rêu lưỡi vàng khô. Nóng dữ ắt huyết dịch sôi sục, tuần hoàn tăng
nhanh, các lạc mạnh nhỏ bé sung huyết, biểu hiện ra các chứng mặt đỏ,
mắt đỏ, lưỡi đỏ, sẫm, mạch hoạt sác mà dại v.v... có thể sơ bộ chẩn đoán
là chứng nhiệt ở dương minh, dùng phép cam hàn thanh nhiệt phối hợp thêm
các thuốc khổ hàn thích hợp dùng bài Bạch hổ thang và Hoàng liên giải
độc thang phối hợp (tức là bài Thanh nhiệt thang nói trên). Ngày 4 tháng
3 người nhà bệnh nhân hết sức mừng rỡ đến báo cho biết: hiệu quả của
thuốc này đặc biệt tốt, hôm ấy uống hết 1 thang thuốc thì chứng người
nóng đã lui một nửa, uống hết một nước sắc thứ hai thì thân nhiệt hạ
xuống tới 36,4 độ C, bệnh khỏi
en1, thuốc chữa bênh Phát sốt, thuốc
chữa Phát sốt, thuốc Phát sốt, chữa Phát sốt, đông y chữa Phát sốt, phat sot,
thuoc chua phat sot, thuoc chua phat sot, thuoc phat sot, chua phat sot, dong y chua phat sot,Thuốc Đông y, đông y chữa bệnh mãn tính, chữa bệnh bằng
thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y, dong y chua benh, chua benh
bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược, phòng khám, phòng khám nguyễn
hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám online, dong y, đông y gia
truyền, phòng khám gia truyền, phong kham nguyen huu toan, phong kham
dong y, phong kham gia truyen,viem xoang, phatsot, benh phatsot,
thuocchuaben hphatsot, chuaphatsot, chuabenh phatsot, thuoc phatsot,
thuocchua phatsot,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: số 482 lô 22C Đường lê Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP