Biện chứng đông
y:
Khí âm đều hư, tà nhiệt làm thương tổn chính khí.
Cách trị:
ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt lợi thủy.
Đơn thuốc:Kết hạch phương gia vị.
Công thức:
Tây hà liễu 30g, Hoàng liên 4g, Sâm tu 4g, Sinh kỹ 30g, Miết giáp 15g,
Triết bối 15g, Xa tiền thảo 30g, Mạch đông 15g, Sinh địa 15g, Vân linh
12g, Qua lâu 15g, Cam thảo 4g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm
sàng:
lý XX, nữ, 35 tuổi, xã viên. Tháng 11 nǎm ngoái bắt đầu sốt, trướng bụng,
ra mồ hôi trộm, người nóng bức bối, thần sắc mệt mỏi, ở địa phương chẩn
đoán là lao phúc mạc kèm bụng nước đã điều trị bằng đông tây y nhưng
không thấy chuyển biến, tháng 4 nǎm nay tới khám siêu âm chẩn đoán: Bụng
có nước khoảng dầy 8-10cm, huyết trầm 67mm/giờ, rêu lưỡi mỏng, chất lưỡi
đỏ; mạch tế huyền hơi sác. Cho uống 30 thang "Kết hạch phương gia vị".
Ngày 10 tháng 5 khám lại, cảm thấy tinh thần tốt hơn, đã giảm trướng
bụng, không ra mồ hôi trộm, ǎn được nhiều hơn. Chẩn đoán siêu âm: Nước
trong bụng còn dầy 0,5cm, huyết trầm giảm xuống mức bình thường. Rêu
lưỡi mỏng vàng, chất lưỡi hơi đỏ, mạch tế sác. Tiếp tục cho uống 17
thang nữa, ngày 2 tháng 6 khám lại, các triệu chứng trên đã được cải
thiện cơ bản, hết nước trong bụng rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế sác. Lại
cho uống thêm 10 thang nữa để củng cố thêm.
Bàn luận:
Bài thuốc này còn được dùng trên lâm sàng để trị các loại bệnh lao khác
đều thấy có kết quả tương đối tốt.
Lao
màng bụng
Biện chứng đông
y:
Khí trệ huyết ngưng, làm tắc kinh lạc, kinh thủy không hành, huyết hóa
thanh thủy, làm thành trướng thủy trong bụng.
Cách trị:
Công trục lợi thủy, tiêu ứ thông lạc.
Đơn thuốc:Sơ tạc ẩm tử.
Công thức:
Khương hoạt 9g, Tần giao 9g, Trạch tả 9g, Tiêu mục 8g, Xích tiểu đậu
12g, Đại phúc bì 15g, Phục linh bì 15g, Bình lang 6g, Thương lục 6g. Sắc
uống mỗi ngày 1 thang. Khi công bất lợi, có thể thêm Khiên ngưu tử, Cam
toại, hoặc phối hợp với các vị thuốc tiêu ứ như Đào nhân, Hồng hoa, Đan
sâm, Xích thược, Đan bì, Quy vĩ, Ngũ linh chi, Sinh bổ hoàng, Hương phụ.
Hiệu quả lâm
sàng:
Diệp XX, nữ, 25 tuổi, xã viên, vào viện ngày 15-5-1973. Đã một nǎm nay
bệnh nhân nhiều lần bị trướng bụng, sốt dài ngày, ra mồ hôi trộm, chóng
mặt váng vất, kém ǎn mệt mỏi, ngày một gầy đi, thường chảy máu cam,
miệng khô khát, đái ít mà nước tiểu đỏ đặc như nước chè, đại tiện khô
táo, vón cục như phân dê, sắc mặt trắng bệch, hai gò má lồi ra, hốc mắt
quầng thâm, tay chân khô và có vết sưng, bụng như cái chum gân xanh nổi
rõ, chất lưỡi đỏ sẫm, trên lưỡi có 3 vết tím, rêu bẩn mỏng vàng, mạch
trầm, ráp. Đã kiểm tra tây y, thấy tình trạng bệnh mạn tính, sắc diện
thiếu máu, thần sắc vẫn tỉnh táo, dưới cổ bên phải có một khối sưng to
bằng quả bóng bàn, có bờ rõ ràng, hoạt động hơi kém, hai bên cổ đều có
hạch lymphô nông, bụng bên phải sờ thấy 5-6 hạch hymphô bằng cỡ hạt đậu
tương. Bụng trướng to, thành bụng thấy rõ các tĩnh mạch phập phồng, thấy
rõ trong bụng có báng nước, sờ thấy lách phù, hai chân đều phù ấn lõm
(++). Chiếu điện thấy tim to ra về hai phía, hai bên cơ hoành nhô lên
cao, phổi bình thường. Chức nǎng gan bình thường. Huyết trầm 26mm/giờ,
bạch cầu 10.000/mm3, hồng cầu 2. 900 000/mm3, huyết sắc tố 79%, phân
loại bạch cầu trung tính 78%,, lymphô 22%, kiểm tra tủy xương thấy tủy
xương thiếu máy tǎng sinh nhẹ. Thǎm dò bệnh lý hạch lymphô vùng bụng xác
định lao hạch. Nước trong bụng: nhìn bên ngoài mày vàng nhạt, hơi đục,
số tế bào 212/ mm3, thử nghiệm rivalta dương tính. Quá trình nằm viện,
trước tiên dùng kháng sinh, giảm sốt nhưng bụng báng nước và tình trạng
toàn thân vẫn không thấy có chuyển biến gì, toàn thân mệt mỏi cực độ nằm
li bì không dậy được. Hạ tuần tháng 9 tới chẩn trị đông y, dùng bài
thuốc dưỡng âm ích khí hoạt huyết thông lạc, nhưng bệnh tình vẫn chưa
thấy giảm. Ngày 15 tháng 10 chúng tôi tiếp nhận để chữa trị tiếp, cho
dùng "Sơ tạc ẩm tử". Đầu tiên thấy đại tiểu tiện nhiều hơn, bụng đã giảm
báng nước. Sau khi bụng hết báng nước, dùng Bát trân thang bổ ích khí
huyết để tấn công toàn diện. Ngày 18-1-1974 bệnh nhân mạnh khỏe và ra
viện. Trước khi ra viện đã bị mất kinh gần 9 tháng, giờ đây đã có kinh
trở lại.