Biện chứng đông y: Can khí uất kết, khí cơ không
điều hòa được, tạo thành khí nghịch không giáng được dâng khí lên thành
xuyễn.
1. can phí uất kết, khí
nghịch
Triệu chứng: Xuyễn khó thở không nằm được, tức ngực,
nấc, bụng đầy không muốn ăn uống. Mạch hoãn huyền hữu lực, lưỡi nhạt rêu
mỏng
Cách trị: Giải uất tiết nhiệt, điều can giáng
nghịch.
Đơn thuốc: Ngũ ma ẩm hợp tứ nghịch tán gia giảm.
trầm hương
6
ô dược
10
Nhục quế
4
Hoàng liên
9
Mộc hương
6
Sài hồ
12
đại bạch phụ
12
Chỉ sác
12
hàng thược
20
Cam thảo
6
Sau đó lại đem tất cả sắc nhỏ lửa lấy nước mỗi ngày
uống 1 thang chia làm 4 lần
Công thức: Trầm hương 6g, Ô dược 10g, Nhục quế 4g,
Hoàng liên 9g, Mộc hương 6g, Sài hồ 12g, Đại bạch phụ 12g, Chỉ xác 12g,
Hàng thược 20g, Cam thảo 6g, đem Hoàng liên và Hàng thược sắc trước lấy
nước, sau dùng ngay nước thuốc này xay những vị khác còn lại cho thật
nhỏ..
Hiệu quả lâm sàng: lý XX, nữ, 21 tuổi, xã viên. Ba
năm trước bị cảm kéo dài hơn 1 tháng mới khỏi. Sau khi khỏi vẫn cảm thấy
tức ngực, họng không thông. Ngay khi đó không được điều trị dứt điểm,
sau đó sinh xuyễn, mỗi năm đến kỳ qua xuân sang hè hoặc sau khi tức giận,
bực bội là bệnh lại càng thêm nặng. Khi lên cơn hen không nằm thẳng trên
giường được, ho ra đờm không nhiều, đã dùng nhiều cách điều trị mà vẫn
không dứt được cơn hen. Khi đã qua cuối xuân đầu hè, hoặc khi hết tức
giận bực bội thì các triệu chứng tự giảm hết. Lần này cơn hen đã kéo dài
5 ngày, do bực tức chuyện gia đình mà tái phát. Tại bệnh viện đã tiến
hành xét nghiệm máu, nước tiểu phân đều bình thường. Chiếu điện thấy hai
phổi sáng rõ, tim phổi bình thường. Chẩn đoán: 1/Hen phế quản, 2/Bệnh do
lo nghĩ. Họng bệnh nhân có tiếng đờm khò khè. Xuyễn khó thở không nằm
được, tức ngực, nấc, bụng đầy không muốn ăn uống. đã dùng kháng sinh,
aminophylin, nhưng chỉ có thể tạm thời giảm cơn, cũng có dùng liệu pháp
ám thị nhưng không kết quả.. Cho uống "Ngũ ma ẩm hợp tứ nghịch tán gia
giảm". Sau khi uống 1 tuần bệnh tình đã đỡ, cơn tái phát nhẹ đi, thời
gian lên cơn ngắn lại, đã hết tức ngực, nấc. Tiếp tục cho dùng bài thuốc
này, thêm Sạ can 10g, cùng đem sắc với Hoàng liên, Hàng thược rồi say
với các vị khác, uống được hơn 1 tháng thì bệnh khỏi hẳn.
Bàn luận: Hen xuyễn là do sự bất thường của việc
thăng giáng, ra vào của khí gây ra. Bệnh nhân lúc thường là người khỏe
mạnh, không có biểu hiện hư khí cho nên dùng Ngũ ma ẩm để điều khí giáng
nghịch, làm thông đạt khí cơ dùng tứ nghịch tán để sơ can giải uất, điều
hòa can vị, làm cho trên dưới điều hòa, khí cơ không bị trở ngại, không
trị xuyễn mà xuyễn sẽ phải lui. Hai bài thuốc này không phải chủ trương
trị xuyễn, nhưng khi dùng kết hợp lại tác động đúng vào cơ chế sinh bệnh,
bản chất là trị căn nguyên mà khỏi tiêu chứng bệnh. Dùng nước sắc Hoàng
liên v.v... để xay các vị còn lại là vì các vị thuốc này hàm chứa nhiều
khí vị, xay ra sẽ thu được đầy đủ khí vị, không làm mất đi tí nào, sau
đó đem sắc nhỏ lửa làm cho khí vị thuần hòa, phát huy được đầy đủ tác
dụng của các vị thuốc. Phương pháp xay (ma pháp) thường bị người sau xem
nhẹ, người thầy thuốc cần nghiên cứu kỹ nguyên lý chế thuốc để hiểu ý
của cố nhân xây dựng bài thuốc.
Hen phế quản
Biện chứng đông y: Phế tỳ khí hư, đờm đục không ta,
khí đờm kết lại, bản ho tiêu thực.
2. phê tỳ khí hư
Triệu chứng: ho khó
thở, nhiều đờm, Khi lên cơn, ngực co rúm lại, khó thở, ho
khạc ra đờm dính màu trắng thì cảm thấy có dễ chịu hơn. hơi bị lạnh là
hắt hơi, nhức đầu, toàn thân khó chịu. Sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt rêu
trắng, lục mạch trầm hoãn
Cách trị: Bổ ích phế tỳ, tiêu đờm giáng khí.
Đơn thuốc: Sâm giới tán gia vị.
cáp giới
2con
Nhân sâm
15
Hoài sơn
60
Hạnh nhân
24
trầm hương
12
Nhục quế
12
Bán hạ
30
Hoàng kỳ
60
tử bì hồ đào
60
sa bạch quả
30
Tang bì
30
Cam thảo
15
Công thức: Cáp giới (tắc kè) 2 con (chặt bỏ đầu và
chân), Nhân sâm 15g, Sơn dược 60g, Điền hạnh nhân 24g, Trầm hương (loại
tốt) 12g, Nhục quế (loại tốt) 12g, Kinh bán hạ 30g, Hoàng kỳ 60g, Tử bì
hồ đào 60g, Sa bạch quả 30g, Tang bạch bì 30g, Cam thảo 15g. Các vị trên
tán mịn làm một liều thuốc gói kín để dùng dần: mỗi lần 4-6g, mỗi ngày 3
lần, uống với nước đun sôi để nguội. Với bệnh nhân chất lưỡi đỏ, rêu
lưỡi vàng mỏng, thì bỏ bớt Nhục quế mà thêm Nữ trinh tử 30g, Câu kỷ tử
30g.
Hiệu quả lâm sàng: Hơn 10 ca bệnh nhân hen phế quản
dai dẳng đã dùng bài thuốc Sâm giới tán gia vị, đều đạt được kết quả
điều trị tốt. Từ XX, nam, 45 tuổi, cán bộ. Đã hơn 4 năm bị những cơn hen
xuyễn, nhiều đờm. Bốn năm trước sau khi mắc bệnh, cứ mỗi lần bị lạnh,
hoăcỷ ngửi phải khí than là lại lên cơn xuyễn. Khi lên cơn, ngực co rúm
lại, khó thở, ho khạc ra đờm dính màu trắng thì cảm thấy có dễ chịu hơn.
Bệnh tình mỗi năm một nặng thêm, các cơn hen ngày một xuất hiện nhiều và
kéo dài hơn. Tây y chẩn đoán là hen phế quản. Đã dùng ephedrin,
ainophylin, adrenalin, lúc đầu có hiệu quả khá tốt, nhưng sau đó cảm
thấy hiệu quả chẳng được là bao. Một năm trở lại đây bệnh tình lại nặng
thêm, cứ đến hai mùa hạ và thu là lại lên cơn hen nặng, sang mùa đông
xuân thì cảm thấy đỡ hơn. Một năm nay, tây y cho dùng cortison mỗingày 3
lần, dùng liên tục dài ngày, vào vụ hè thu không ngày nào là không dùng,
còn đồng thời dùng thêm khí dung cắt cơn hen, luôn mang theo người, hơi
cảm thấy khó thở muốn ho là phải phun ngay. Bệnh nhân rất dễ bị cảm mạo,
hơi bị lạnh là hắt hơi, nhức đầu, toàn thân khó chịu. Bệnh nhân không
hút thuốc uống rượu nhiều, đại tiện bình thường. Sắc mặt trắng bệch,
lưỡi nhạt rêu trắng, lục mạch trầm hoãn. Chứng thuộc thái âm hư xuyễn,
khí đờm kết lại thăng giáng bất lợi. Cần trị bằng cách khi bệnh phát cơn
thì trị triệu chứng, lúc bình thường thì chữa căn nguyên, cả hai mặt
cùng chữa trị, lưỡng bố phế tỳ. Vẫn thường xuyên dùng cortison khí dung
để chống lên cơn. Đồng thời dùng "Sâm giới tán gia vị" đại bổ phế tỳ,
tiêu đờm giáng khí, phù chính cố bản để chữa trị tận gốc. Uống liền 4
liều "Sâm giới gán gia vị", sau 4 tháng ngừng dùng tất cả các loại thuốc
tây y, tinh thần sảngkhoái, sức lực dồi dào, thể chất tăngcường. Dùng
bài thuốc này tiếp tục được 1 năm thì ngừng tất cả các loại thuốc. Hỏi
thăm thấy 3 vụ hè thu bệnh không tái phát.
Bàn luận: Thông qua thực tiễn lâm sàng thấy rõ ràng
"Sâm giới tán gia vị' có tác dụng làm thay đổi phản ứng của cơ thể, điều
tiết hormon. Trong quá trình phối hợp điều trị cùng với các thuốc tây y,
dần dần phải giảmbớt hormon và thuốc chỉ xuyễn, lúc đầu thì càng chậm
càng ít càng tốt, cho tới khi hoàn toànkhông dùng tới các loại thuốc tây
y này. Sau đó lại giảm dần cả liều dùng "Sâm giới tán gia vị', cách tiến
hành gồm có giảm dần số lần uống thuốc và giảm dần lượng thuốc uống mỗi
lần, cho đến khi hòan toàn không dùng thuốc nữa. Cả quá trình này cần
kéo dài từ nửa năm tới 1 năm.
Hen phế quản
Biện chứng đông y: Đàm ẩm xuyễn quản.
3. đàm ẩm xuyễn quản
Triệu chứng:
Cách trị: Tuyên phế hóa đàm, bình xuyễn chỉ khái.
Đơn thuốc: Tiêu xuyễn thang.
chích Ma hoàng
0
tế tân
9
Xạ can
9
sinh Thạch cao
24
Ngũ vị
9
Chích thảo
9
Bán hạ
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 3 lần
.. Người bị bệnh lâu ngày thể hư thì lượng thuốc
dùng có thể giảm bớt, hoặc 1 thang chia làm nhiều lần mà uống. Người
thiên về hàn thì thêm Can khương 10g, Phụ tử 9g, bỏ bớt Sinh thạch cao;
người thiên về nhiệt thì thêm Tang bạch bì 12g, Hoàng cầm 10g, người bị
bệnh xuyễn nặng thì thêm địa long 10g, Bạch quả 10g, người có nhiều đờm
thì thêm Bối mẫu 10g, Trúc lịch 10g.
Hiệu quả lâm sàng: Khu XX, nam, 39 tuổi, nông dân.
Từ năm lên 10, người bệnh do bị cảm lạnh thành ho hen xuyễn. Điều trị
bệnh đã đỡ nhưng về sau mỗi khi bị nhiễm lạnh lại lên cơn hen không dứt
được, càng ngày càng nặng, tuy đã điều trị bằng nhiều loại thuốc mà vẫn
không khỏi. Một năm trở lại đây, mỗi lần lên cơn hen lại so vai ngửa cổ
mà hít thở, trông rất thảm hại. Đã dùng ephedrein, aminophylin, mà không
cắt được cơn hen. Dùng corticoid thì có thể giảm cơn hen tạm thời được
20-30 phút, tiêm truyền hormon vào tĩnh mạch thì phải mất khoảng 1 ngày
mới cắt được cơn hen. Cho uống "Tiêu xuyễn thang", uống được 1 thang thì
hen giảm hẳn, uống hết 2 thang thì cơ bản khống chế được cơn hen. Lại
cho dùng Lục quân tử thang và Sinh mạch tán, có tác dụng bồi thổ sinh
kim, Thất vị đô khí thang để ôn thận, nạp khí, các bài thuốc này dùng
lần lượt thay nhau và đều có gia giảm, khi lên cơn hen thì vẫn uống Tiêu
xuyễn thang. Cứ như thế tiếp tục điều trị hơn nửa năm, số lần lên cơn
hen giảm đi rõ rệt, cường độ cơn hen cũng nhẹ hơn nhiều, thể lực tăng
lên rõ rệt. Một năm sau thì bệnh cơ bản khỏi hẳn.
Bàn luận: "Tiêu xuyễn thang" là bài thuốc tuyển
chọn phối hợp chữa hen của đông y dựa trên các bài thuốc Tiểu thánh long
thang, Sạ can ma hoàng thang, Ma hạnh thạch cam thang. Trong bài thuốc
này chú trọng sử dụng Ma hoàng để tuyên phế bình xuyễn, Tế tân để ôn phế
hóa ẩm, Sạ can để bình nghịch giáng khí, Bán hạ có tác dụng hóa đàm khử
ẩm, Ngũ vị tử liễm phế cầm ho và khống chế sự "tán" của tế tân, Sinh
thạch cao để thanh phế giải nhiệt và khống chế "hãn" (gây mồ hôi) của Ma
hoàng, Chích cam thảo nhuận phế cầm ho, điều hòa các vị khác, nhằm đạt
được hiệu quả phối hợp hóa đàm tuyên phế, bình xuyễn chỉ khái. Hen xuyễn
do phế tuyên mà sẽ bình được, ho do đờm giảm mà cầm được. Người xưa có
nói "Tế tân bất quá tuyến", nay dùng trong "Tiêu xuyễn thang" tới 9g,
tương đương với 3 tiền, nhưng chỉ cần dùng đúng bệnh, phối hợp đúng
phương pháp, trên lâm sàng chưa thấy có phản ứng nào không tốt. Đó cũng
chính là điều mà "Nội kinh" đã nói:"Hữu cố vô vẫn, dược vô vẫn dã".
Hen phế quản
Biện chứng đông y: Hàn tà phạm phế, khí cơ thất
lợi.
4. hen phế quản hàn
Triệu chứng:
Cách trị: Tân hàn bình xuyên.
Đơn thuốc: Cao trị hen xuyễn.
nam tinh
15
Bán hạ
15
Cát cánh
15
xuyên bối
15
tế tân
15
Hạnh nhân
15
sinh Cam
thảo
15
Ngũ vị
15
sinh Ma
hoàng
9
bạch tô rử
9
Đông hoa
9
sinh tử uyển
9
ma dầu
200
bạch mật
120
Sinh khương
120
Công thức: Chế nam tinh 15g, Pháp bán hạ 15g, Cát
cánh 15g, Xuyên bối 15g, Tế tân 15g, Hạnh nhân 15g, Sinh cam thảo 15g,
Ngũ vị tử 15g, Sinh Ma hoàng 9g, Bạch tô tử 9g, Khỏan đông hoa 9g, Sinh
tử uyển 9g, Ma dầu (dầu gai) 200g, Bạch mật (mật trắng) 120g, Sinh
khương trấp (nước gừng tươi) 120g. Trước hết đun đổ 12g vị thuốc đầu
tiên vào trong dầu gai ngâm 24 giờ, đem sao cho đặc, lọc bỏ bã, lấy nước,
sau đó cho thêm mật trắng vào nước gừng tươi đun cô thành cao, cho tới
lúc đem nhỏ vào nước thì thành giọt châu, lấy được khoảng 440g. Mỗi ngày
buổi sớm khi gà gáy canh năm thì uống 1 thìa nhỏ với nước đun sôi để
nguội, trẻ em thì giảm bới liều dùng tùy lớn nhỏ. Trong thời gian dùng
thuốc này không được ăn các thức ăn sống, lạnh, rượu, tôm, cua...
Hiệu quả lâm sàng: DungXX, nam, 38 tuổi, cán bộ.
Khám điều trị năm 1957. Bệnh nhân bị hen phế quản kéo dài đã 6 năm.
Thoạt đầu mỗi năm lên cơn 1-2 lần, phần nhiều vào mùa đông xuân, sau khi
bị lạnh. Nói chung uống ephedrin hoặc các thuốc đông y thì có thể dứt
cơn được. Hai năm gần đây ngày càng bị nhiều cơn hơn, cứ mấy ngày lại
lên một cơn hen, mỗi lần bị mất hàng tuần lễ mới dứt dần, dùng các loại
thuốc đông tây y chỉ có thể tạm thời dễ chịu hơn một chút mà không giảm
bớt được tần suất cơn hen. Cho uống "Cao trị hen", đề nghị người bệnh
kiên trì dùng liên tục, khi dùng hết khoảng 250g, thì dứt hết cơn hen.
Lại tiếp tục uống cho tới tất cả 2 500g, đồng thời phối hợp cho dùng một
số Kim quĩ thận khí hoàn, Bột nhau thai, sau khi khỏi bệnh đã theo dõi
21 năm không thấy tái phát.
Bàn luận: "Cao trị hen" xuất xứ từ bộ sách Phật học
"Tây phương công cụ kinh nghiệm lương phương". Qua chỉnh lý gia giảm mà
thành. Dùng trên lâm sàng quan sát mấy chục năm nay, xác nhận là bài
thuốc có hiệu quả tốt để trị hen phế quản. Đặc biệt nếu dùng cho những
bệnh nhân hen phế quản dạng hàn chứng thì hiệu quả lại càng tốt. Khi
dùng bài thuốc này nên căn cứ vào lý luận đông y "Thận bất nạp khí". "Phế
bệnh tại tì", "Tử bệnh lụy mẫu", đồng thời với việc khống chế cơn hen,
cần chú ý điều bổ tì thận, như cho uống Kim quỹ thận chí hoàn, Hà xa đại
tạo hoàn, Sâm kỳ cao, có thể tăng thêm kết quả điều trị lên nhiều, củng
cố lâu dài được hiệu quả điề
Viêm phế quản mạn tính kèm phế khí thũng
Biện chứng đông y: Trung tiêu dương hư, tỳ mất chức
năng kiện vận, khí không hóa thủy, tụ thấp thành ẩm, lâu ngày sinh đờm
dâng lên tâm phế thành ho, xuyễn.
Cách trị: Ôn dương khứ thấp hóa đàm.
Đơn thuốc: Gia vị lý ẩm thang.
Công thức: Bạch truật 15g, Can khương 9g, Quế chi
6g, Chích cam thảo 6g, Bạch phục linh 20g, Quất hồng 9g, Hậu phác 9g,
Đình lịch tử 9g, Tô tử 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Tiết XX, nữ, 47 tuổi, công nhân.
Tới khám ngày 25-11-1978. Bệnh nhân bị ho, xuyễn đã hơn 7 năm, mỗi năm
cứ đến mùa đông và mùa hạ là bệnh lại nặng lên. Nửa tháng gần đây bệnh
nhân bị ho, xuyễn rất nặng, khó thở, không nằm thẳng được, đã dùng các
thuốc đông tây y nhưng bệnh vẫn không đỡ, lại kèm thêm các chứng váng
đầu chóng mặt, tim đập hồi hộp, hơi thở ngắn, ho ra rất nhiều đờm dãi
trắng, lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm hơi hoạt.
Chiếu X quang phổi chẩn đoán là viêm phế quản mạn tính kèm theo phế khí
thũng. Cho uống "Gia vị lý ẩm thang". Uống được 3 thang thì ho xuyễn
giảm hẳn. Khi khám lại thấy trong ngực có cảm giác nóng bức, ra mồ hôi
trộm, nên tiếp tục cho dùng bài thuốc trên, nhưng bỏ bớt Đình lịch tử và
Tô tử, cho thêm Hoàng kỳ 15g, Bạch thược 9g, Táo nhân (sắc) 9g, uống
tiếp 6 thang nữa thì các triệu chứng trên đều giảm. Sau đó lại tiếp tục
dùng "Gia vị lý ẩm thang" có gia giảm tùy theo triệu chứng cụ thể, uống
thuốc được hơn 1 tháng thì bệnh tình ổn định.
Viêm phế quản cấp
Biện chứng đông y: Hàn ẩm uất phế, thất kỳ túc
giáng.
Cách trị: Ôn hóa thủy ẩm, khai uất thang giáng.
Đơn thuốc: Tiểu thanh long gia thạch cao thang.
Công thức: Ma hoàng 20g, Quế chi 20g, Bạch thược
20g, Can khương 20g, Tế tân 20g, Ngũ vị tử 20g, Đại táo 20g, Cam thảo
20g, Bán hạ 30g, Thạch cao sống 120g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang chia
làm 2 lần.
Hiệu quả lâm sàng: Đã theo dõi điều trị 100 ca viêm
phế quản cấp đều khỏi cả. Liệu trình ngắn nhất 1 ngày, dài nhất 6 ngày,
trung bình 3,2 ngày. Liệu trình điều trị ho khan thể kích thích trung
bình 2,1 ngày. Trương XX, nữ, 37 tuổi. Đến khám ngày 27-12-1979. Một
tháng trước bệnh nhân gặp mưa, bị lạnh mà phát bệnh. Lúc đầu ớn lạnh
phát sốt, ngứa cổ, ho. Tây y chẩn đoán là viêm phế quản cấp. Đã dùng
penicillin, streptomycin, gentamycin, phenergan, codein, nhưng vẫn ho
nhiều rũ rượi, ho gập người vãi đái. Đêm nằm không chợp mắt, lo lắng,
lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn. Cho uống "Tiểu thanh long gia
thạch cao thang", uống hết 2 thang thì khỏi.
Bàn luận: Trong thang thuốc có vị Tế tân dùng hơi
nhiều, nếu gặp bệnh nhân cơ thể suy nhược thì có thể giảm bớt.
áp xe phổi
Biện chứng đông y: Ngoại cảm phong ôn bệnh độc,
bệnh tà tập kết tại phế tổn thương huyết mạch, huyết bị nhiệt đốt mà
sinh thối thịt thành ung mủ.
Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, khử đờm bài mủ.
Đơn thuốc: Thanh nhiệt bài nùng thang.
Công thức: Đông qua tử 30g, Ngân hoa 30g, Công anh
30g, Sinh ý mễ 30g, Tiên lô căn 60g, Cát cánh 10g, Đơn bì 10g, Chỉ thực
10g, Đình lịch tử 10g, Xuyên bối 10g, Đào nhân 10g, Tô tử 10g, Hoàng cầm
15g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần.
Hiệu quả lâm sàng: Thôi XX, nam, 45 tuổi, sốt cao,
ho, nôn ra đờm dính có mủ, mùi hôi thối, ngực đau, thở gấp, miệng khát,
chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác hữu lực. Chẩn đoán là phế ung (áp
xe phổi). Cho uống "Thanh nhiệt bài nung thang". Sau 2 tháng thì các
chứng đều giảm, duy đờm cẫn còn mùi thối. Lại theo bài đó tiếp tục uống
5 thang, các chứng đều hết, bệnh khỏi
Bàn luận: Điêuử trị phế ung (áp xe phổi) thì trước
hết phải làm rõ hư thực. Nói chung nếu đột nhiên sốt cao, ho đờm dính mà
thối, ngực đau, chất lưỡi hồng rêu vàng, mạch hoạt sác hữu lực là thuộc
thực chứng, tức phải lấy thanh phế nhiệt giải độc bài nùng (trừ mủ) làm
chủ yếu, lượng thuốc phải nhiều, nếu hư giữ lượng như cũ tất không chế
ngự được dương cang, âm lại bị tổn thương. Cần chữa trị lúc chưa thành
mủ thì tác dụng nhanh hơn, còn nếu đã thành mủ rồi thì nên dùng phép
hoạt huyết bài nùng (trừ mủ), thanh nhiệt giải độc mới có thể bảo toàn
phế khí và tân dịch mà khỏi bệnh. Người nghiện rượu bị bệnh này thì
thường không tốt, nếu xuyễn, tiếng khàn, máu mủ hôi thối móng tay tím
bầm, tức là phổi đã thối nát, tình hình như vậy thì dữ nhiều lành ít.
Trong bài "Thanh nhiệt bài nùng thang" có Ngân hoa, Công anh, Tiên lô
căn, Hoàng cầm đều là thanh phế nhiệt giải độc; Đông qua tử, Đơn bì, Chỉ
thực, Cát cánh, ý mễ, Xuyên bối đều là thanh phế nhiệt mà trừ mủ; Đào
nhân hoạt huyết hóa ứ, Đình lịch tử, Tô tử đều là giáng khí tiết phế.
Các vị thuốc hiệp đồng do đó chóng đạt hiệu quả hoàn toàn
Khí thũng phổi (giãn phế nang)
Biện chứng đông y: Thận không nạp khí, khí hư sinh
ho xuyễn.
Cách trị: Nạp thận, Bình xung, Định xuyễn.
Đơn thuốc: Gia giảm Quế chi long mẫu thang.
Công thức: Long cốt 20g, (sắc trước), Mẫu lệ 30g,
(sắc trước), Đại giả thạch 30g, (sắc trước), Quế chi 2-5g, Bạch thược
10g, Đương qui 10g, Chích tô tử 10g (gói bằng vải để sắc), Ngũ vị tử 5g,
Trầm hương 3g (cho vào sau), Mạch đông 10g, Tái tử sâm 15g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Người bệnh mà lưỡi sác,
họng khô, đờm lẫn huyết thì bỏ Quế chi thêm Thạch hộc, Bắc sa sâm; ho
đờm thì thêm Khỏan đông hoa, Bách bộ, Chích tử uyển; tự ra mồ hôi thì
thêm Chích hoàng kỳ; rêu lưỡi bẩn thì thêm Nhị trần thang. Sau khi bệnh
tình ổn định thì có thể thêm Sơn dược, Đông trùng hạ thảo để điều bổ thì
càng hay.
Hiệu quả lâm sàng: Lục XX, nam, 60 tuổi, sơ chẩn
ngày 2-4-1979. Hàng ngày cứ về chiều ho thở gấp, khó yên, sợ lạnh, tim
đập mạnh, đầu váng tức ngực, cảm thấy hư hỏa bốc lên, nửa đêm khó chịu
vì khí trào lên dạ dày. Mạch hư huyền, lưỡi hồng nhạt, rìa lưỡi có hằn
răng. Chiếu X quang thấy: Khí thũng phổi (giãn phế nang) viêm màng phổi
trái, lao phổi thời kỳ hấp thu. Cho dùng "Gia giảm Quế chi long mẫu
thang". Sau khi uống 3 thang khám lại thấy bệnh nhân hết thở gấp, hết
tức ngực, đã có thể nằm thẳng, đỡ sợ lạnh, ban đêm không còn khí xung
lên nữa, giấc ngủ cải thiện ăn nhiều hơn. Tiếp tục uống đơn trên thêm
Hoàng kỳ, Sơn dược, Nam Bắc sa sâm, Phục linh, Dĩ mễ điều trị hơn 20
ngày, chữa khỏi trên lâm sàng.
Bàn luận: "Gia giảm quế chi long mẫu thang" dùng để
chữa viêm phế quản mạn tính của người già, bệnh tim phổi, hen phế quản,
hen xuyễn do histeri (ý bệnh) đều có tác dụng tương đối tốt
Khí thũng phổi (giãn phế nang)
Biện chứng đông y: Đờm rãi úng thịnh.
Cách trị: Phù chính khu tà, chữa cả gốc lẫn ngọn.
Đơn thuốc: Tam tử dưỡng thân thang gia vị.
Công thức:Tô tử 10g, Bạch giới tử 10g, Lai phục tử
10g, Sinh sơn dược 60g, Nguyên sâm 30g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Đã sử dụng "Tam tử dưỡng thân
thang gia vị" điều trị nhiều ca giãn phế nang ho xuyễn có kết quả tốt.
Nói chung sau khi uống 1-3 thang đã thấy hiệu quả, đến 10 thang thì khỏi
hẳn trên lâm sàng. Cao XX, nam, 67 tuổi, xã viên. Tháng 3-1977 vì khó
thở nặng nên xin điềutrị. Bệnh nhân ho xuyễn đã 8 năm, thường vẫn dùng
aminophyllin v.v... Triệu chứng hiện nay; ho hen, khó thở, rất nhiều đờm
dính, lẫn bọt, ngực đầy đau tức lại còn váng đầu, mêt nhọc, buồn bực,
miệng khô khát uống không nhiều, lưỡi đỏ mà ít dãi, mạch tế sác. Chiếu X
quang vùng ngực thấy khí thũng phổi (giãn phế nang). Bệnh chứng thuộc về
đờm nhiệt ẩn náu lâu ngày, phế âm tổn hại, âm hư ắt sinh nội nhiệt,
nhiệt quá ắt cô dịch thành đờm, đờm làm tắc đường, khí phải ngược lên và
sinh xuyễn. Đó là chứng khí hư mà tà khí thực, hư thực lẫn lộn, phép trị
phải phù chính khu tà, chữa cả gốc lẫn ngọn. Dùng bài "Tam tử dưỡng thân
thang gia vị". Uống được 3 thang thì các chứng giảm nhiều, ho xuyễn
chuyển biến rất tốt. Uống tiếp 3 thang, mọi chứng đều hết, chứng ho lâu
năm cũng khỏi. Ba năm sau hỏi lại chưa thấy tái phát.
Bàn luận: "Tam tử dưỡng thân thang gia vị" chữa rất
tốt các bệnh người già ho hen khí nghịch. Đờm nhiều, ngực như tắc lại,
đờm nhiều ắt khí trệ, khí uất ắt sinh hỏa, vì vậy dùng Tô tử để giáng
khí hành đàm, Bạch giới tử thông cách trừ đàm, Lai phục tử tiêu thực hóa
đờm, làm cho khí thuận đờm tiêu nên hết ho. Dùng bài này để trị cái thực
ở ngọn. Sơn dược sắc trắng nên vào phế vị ngọt đi vào tì, làm đậm dịch
mà ích thận, cho nêncó thể bổ phế bổ thận và bổ tì vị. Tính năng nó có
thể tư âm lại có thể lợi thấp, có thể hoạt nhuận lại có thể thu sáp. Nó
có tác dụng rât tốt, uống làm hết ho, hết xuyễn, tính rất hòa bình.
Nguyên sâm sắc đen, vị ngọt hơi đắng, tính lương nhiều dịch, khí mỏng vị
lại dầy, vừa nuôi âm dịch tốt vừa có thể giáng, ruột nó rỗng sắc trắng
có thể vào phế để thanh táo nhiệt ở phế hết sức thích hợp để trị ho
xuyễn do phế nhiệt. Cho nên dùng hai vị này là trị cái gốc bị hư kèm
thanh hư hỏa, hơn nữa cùng dùng Sơn dược với Nguyên sâm thì tăng khả
năng chỉ khái định xuyễn. Trương Tích Thuần sớm đã nói: "Bài Tam tử hợp
phương" có tác dụng phù chính khu tà, thực ra là bài thuốc có tác dụng
tốt với chống đờm xuyễn của người già... Bài Tam tử dưỡng thân thang này
là phát xuất từ "Hàn thì y thông".
Giãn phế quản khạc máu quá nhiều
Biện chứng đông y: Thận tinh hư khuyết, thủy không
hàm mộc, mộc hỏa phạt kim, phế lạc tổn thương gây khạc máu.
Cách trị: ích khí dưỡng âm, tư thủy hàm mộc.
Đơn thuốc: Chi khoáng cao.
Công thức: Bắc sa sâm 120g, Tiên đông 60g, Mạch
đông 60g, Ngũ vị tử 48g, Thục địa hoàng 240g, Chung bạch truật 48g, Phục
thần 60g, Viễn chí 48g, Toan táo nhân 36g, Đông trùng hạ thảo 60g, Qui
bản 120g, Bắc câu kỷ 120g, Hạ khô thảo 60g, Xuyên bối mẫu 60g, Đương qui
thân 60g, Ngân sài hồ 48g, Xuyên hoàng linh 30g, Xuyên luyện nhục 36g,
Tử đan sâm 48g, Cam thảo 24g, 21 vị thuốc trên thêm nước vừa đủ sắc nhỏ
lửa lấy nước thứ nhất thứ hai, bỏ bã đặc, sau đó thêm 1 lượng mật ong
vừa phải cùng với đường phèn làm thành cao bỏ lọ dùng dần. Mỗi ngày uống
3 lần, mỗi lần 10-15g, uống với nước ấm.
Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng bài thuốc trên chữa cho
trên 20 người đều khỏi cả. Chu XX, nam, 36 tuổi, cán bộ. Khạc máu từ năm
1959, từ đó vẫn thường phát bệnh lại. Đã từng nằm bệnh viện, tuy có thể
cầm máu được tạm thời nhưng không trị đến gốc. Năm 1963 lại khạc nhiều
máu, bệnh viện tỉnh chẩn đoán là giãn phế quản. Kiểm tra bệnh nhân khạc
ra một lượng máu lớn, ho nhẹ, thở ngắn, mặt ủ rũ, yếu mệt, lưỡi đỏ, ít
rêu, mạch tế. Cho dùng "Chi khoáng cao". Uống được 1 liều hết khạc máu,
các chứng đều hết. Dặn bệnh nhân mỗi năm mùa đông phải chịu khó uống 1
liều. Bệnh nhân liên tục dùng 3 mùa đông, bệnh chưa tái phát, hỏi lại
thì thân thể đã mạnh khỏe.
Bàn luận: "Chi khoáng cao" có thể dùng cho bệnh lao
thổ huyết, cũng có thể được kết quả hết sức mỹ mãn như vậy. "Chi khoáng
cao" mùa hè sau khi điều chế để vào tủ lạnh. Vì trong cao có một lượng
đường thích hợp mà mùa hè nhiệt độ cao, vi khuẩn dễ mọc, thuốc sẽ biến
chất. Bỏ vào tủ lạnh để lâu vẫn tốt.
Giãn phế quản khạc máu
Biện chứng đông y: Phế táo nhiệt, can hỏa cang
thịnh, đốt hỏng phế lạc, bức huyết vọng hành.
Cách trị: Bình can thanh phế, sinh lạc chỉ huyết.
Đơn thuốc: Phức phương thanh phế chỉ lạc thang.
Công thức: Tang diệp, Tang bì mối thứ 9g, Địa cốt
bì 15g, Sinh cam thảo 9g, Sinh địa 15g, Địa du 15g, Tì bà diệp 12g
(bao), Chích tử uyển 15g, Hoàng cầm 9g, Đại cáp tán 15g (bao).
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nữ, 26 tuổi, công nhân.
Sơ chẩn ngày 10-7-1975. Tháng 9 năm trước bệnh nhân bắt đầu khạc máu, đã
chẩn đoán khạc máu do giãn phế quản. Sau đó tháng 3 năm nay lại ho có
đờm lẫn máu, sắc máu đỏ tươi, có lẫn đen tía. Đến lúc này đã hơn 3
tháng. Mấy ngày gần đây đau ngực, sườn căng, nóng nảy dễ gắt gỏng, lưng
đau ê ẩm, kinh nguyệt trước kỳ, trứơc kinh đau bụng, mũi khô miệng táo
thích uống. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng bẩn, mạch huyền tế sác. Cho dùng
"Phức phương thanh phế chỉ lạc thang". Uống được 6 thang, trong đờm đã
bớt lẫn máu. Vẫn đau tức ngực mỏ ác, đau mỏi lưng. Cho bài trên thêm Uất
kim 9g, tiếp tục uống 6 thang nữa hết hẳn khạc máu, trong đờm cũng hết
máu, bệnh nhân rất mừng. Nhưng vẫn chưa hết khó chịu trong ngực. Uống
tiếp bài thuốc trên bỏ Hoàng cầm, Đại cáp tán, thêm Chỉ xác 9g, để củng
cố kết quả khỏi bệnh.
Bàn luận: Bệnh nhân này giãn phế quản khạc máu,
thời gian bệnh tuy chưa đầy 1 năm, nhưng 3 tháng nay khái huyết liên
miên không ngừng, tinh thần sa sút nặng. Bệnh nhân vốn can vượng phế
nhiệt, do khạc máu lâu ngày không khỏi, phế âm đã hư mà can hỏa càng
vượng, bệnh tình có xu thế phát triển. Trừ chứng cáu gắt là do cang hỏa
cang thịnh, mũi táo khái huyết thuộc phế nhiệt âm hư, còn đau mỏi lưng,
là phế ẩm tổn hại, dẫn đến thận âm cũng hư, gọi là "Phế thận đồng nguyên".
Do vậy mà ngoài việc sử dụng Tả bạch tán để thanh phế, Đại cáp tán để
bình can, Tì bà diệp, Tử uyển, Hoàng cầm, Địa du để túc phế, thanh nhiệt
chỉ huyết. Dùng Sinh địa để tư thận lương huyết. Sau đó máu cầm dần, tức
ngực chưa hết tăng Uất kim, Chỉ xác để sơ can giải uất, cuối cùng đạt
được kết quả lý tưởng.
Viêm phế quản phổi
Biện chứng đông y: Phong nhiệt phạm phế, phế táo
phát nhiệt.
Cách trị: Thanh nhiệt chỉ khái.
Đơn thuốc: Tiên bạng ngân cúc thang.
Công thức: Tiên bạng 5-7 con, Ngân hoa 20g, Cúc hoa
20g, Tiên bạng tốt là thứ trai tươi, vỏ mỏng, màu vàng to béo. Đặt trai
nướng trên than hoa, khi miệng trai hé mở lúc nước trai chưa chảy ra thì
rót nước trong con trai ra trộn với nước sắc Ngân hoa, Cúc hoa đợi nguội
thì uống, mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: lý XX, nữ, 50 tuổi, nông thôn.
Mười năm trước bắt đầu sốt ho, đau ngực, nhức đầu. Bệnh viện khám chẩn
đoán là viêm phế quản phổi, chữa xong thì bớt đau ngực nhức đầu, các
chứng khác như thường, vẫn sốt, ho, đờm đặc vàng, khát, thích uốnglạnh,
không ăn được, môi và lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, nước dãi ít, sáu mạch tế
sác vô lực, người gày mòn, mệt mỏi, buồn ngủ. Chứng bệnh thuộc về phong
nhiệt phạm phế. Cho dùng "Tiên bạng ngân cúc thang". Uống được 1
Hen phế quản kèm giãn phế nang
Biện chứng đông y: Thận hư phế thực, trên thịnh
dưới hư.
Cách trị: Bổ thận nạp khí, lý phế bình xuyễn.
Đơn thuốc: Bổ thận lý phế thang.
Công thức: Thục địa 24g, Sơn dược 30g, Phục linh
15g, Ma hoàng 9g, Hạnh nhân 9g, Tô tử 15g, Đảng sâm 24g, Đương qui 15g,
Ngũ vị tử 9g, Bổ cốt chỉ 30g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Người đờm ít
không thông lợi thì thêm Tang bì 12g, Đông qua tử 30g, ngực đầy tắc, gặp
lạnh nặng lên thì thêm Can khương 6g, Quế chi; nhiều đờm hoặc tiêu hóa
không tốt thì thêm Trần bì 12g, Bạch truật 10g, miệng khô, lòng bàn tay
bàn chân nóng mạch tế sác thì bỏ Bổ cốt chỉ, Thục địa, thêm Địa cốt bì
30g.
Hiệu quả lâm sàng: Hạ XX, nam, 37 tuổi, cán bộ. Sơ
chẩn ngày 9-12--1972. Bệnh mắc đã 7-8 năm, hai năm nay nặng lên rõ rệt.
Triệu chứng là ngực đầy tắc, hen xuyễn, thở gấp, mỗi ngày lên cơn hen
mấy lần. Ho nhiều, đờm nhiều, thở ngắn, hơi hoạt động thì hen đã nặng
lên, dạ dày đầy chướng, tiêu hóa kém. Vì hen nhiều mà ảnh hưởng đến giấc
ngủ. Đã nhiều năm dùng thuốc đông tây y mà chưa thấy kết quả. Hiện nay
hàng ngay không lúc nào bỏ được aminophylin. Kiểm tra kỹ xác định chẩn
đoán là hen phế quản kèm giãn phế nang. Biện chứng qui là thận không nạp
khí, hàn ngưng khí trệ, phế khí ứng tắc đến nỗi phát hen. Nên dùng phép
bổ thận nạp khí lý phế bình xuyễn. Cho đơn "Bổ thận lý phế thang". Uống
thuốc xong thấy bệnh tình thuyên giảm, uống hết 7 thang đã bỏ được
aminophylin. Lại uống 9 thang nữa trên lâm sàng cơ bản đã kiểm soát được
các triệu chứng, không thấy hen nữa, thở đều đặn. Lại uống hơn 10 thang
nữa để củng cố, 8 năm sau hỏi lại chưa thấy bệnh tái phát.
thang thì các chứng giảm nhiều, tinh thần cải
thiện, thấy đói, đòi ăn. Uống được 3 thang các chứng đều hết, bệnh khỏi.
Sau cho biết ăn uống điều hòa hoàn toàn.
Bàn luận: "Tiên bạng ngân cúc thang" dùng chữa các
bệnh cảm mạo lưu hành, viêm nhiễm đường hô hấp trên đều có hiệu quả tốt.
Không ít người bệnh sau khi uống thuốc này đã có cảm giác như phổi được
suối ngọt tưới mát.
Hen phế quản
Biện chứng đông y: Thận khí hư, đờm lạnh trở ngại
đến phổi.
Cách trị: Tả phế ích thận nạp khí.
Đơn thuốc: Gia vị thận khí thang.
Công thức: Thục địa 15g, Hoài sơn 15g, Phục linh
15g, Cẩu kỷ 9g, Trạch tả 9g, Đơn bì 9g, Phụ tử 9g, Đả tinh 9g, Đình lịch
tử 9g, Nhục quế tâm 3g, (uống riêng).
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 63 tuổi, cán bộ.
Đến khám từ tháng 2-1977. Bệnh nhân bị hen phế quản đã hơn 20 năm. Từ
năm 1960 mỗi năm một nặng thêm nhất là năm cuối này bệnh lại càng nguy
kịch. Bệnh nhân bị tức ngực, thở dốc, hơi ngắn, nhất là khi hoạt động,
không nằm thẳng được, lên cầu thang rất khó khăn. Đờm nhiều, trong có
rất nhiều bọt, mạch tế huyền hoãn lưỡi đỏ nhạt, hai mép lưỡi sẫm, rêu
trắng hơi dầy. Cho uống "Gia vị thận khí thang". Uống 3 thang, đã có thể
nằm thẳng được, lên cầu thang không thở dốc. Bệnh nhân tin tưởng, uống
tiếp hơn 20 thang nữa. Cuối năm1979 thăm lại thấy saukhi dùng thuốc bệnh
đã đỡ, tình trạng sức khỏe tốt. Bệnh nhân đã lên Bắc Kinh họp còn đi
tham quan khảo sát ở Anh, không thấy bệnh tái phát.
Bàn luận: Ngoài trường hợp nêu trên, đã dùng bài
thuốc này có gia giảm để chữa cho mấy trường hợp hen xuyễn khác đều có
kết quả tốt. Trong đó có 1 trường hợp hen kèm tăng tế bào ái toan, cũng
đạt kết quả điều trị tốt. Trường hợp này cho dùng bài thuốc trên, bỏ
Đình lịch tử, thêm Địa long can 9g, Hùng hoàng 0,6g (uống riêng
Hen phế quản
Biện chứng đông y: Đàm hỏa phạm phế, ứ tắc phế
khiếu, phế không túc giáng được.
Cách trị: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên phế lợi khí.
Đơn thuốc: Gia vị tiền hồ thang.
Công thức: Tiền hồ 12g, Hạnh nhân 9g, Tang diệp
12g, Tri mẫu 12g, Mạch đông 9g, Hoàng cầm 9g, Kim ngân hoa 15g, Khỏan
đông hoa 9g, Tỳ bà diệp 12g, Cát cánh 9g, Cam thảo 6g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang (kiêng ăn các thứ tanh,
cay)
Hiệu quả lâm sàng: Khang XX, nữ, 26 tuổi, cán bộ.
Ngày 5-3-1970 tới khám. Bệnh nhân bị ho xuyễn đã mấy tháng, trong cổ
họng có tiếng đờm rít, khó thở, đờm vàng quánh, đau tức cả vùng ngực,
miệng khát bực bội, mặt đỏ, môi đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt
sác hữu lực, bệnh thuộc về đờm hỏa phạm phế, làm ứ tắc phế khiếu, phế
không còn chức năng túc giáng, khí đạo không lợi mà dẫn đến xuyễn. Khám
tây y chẩn đoán là hen phế quản. Cần trị bằng phép thanh nhiệt hóa đờm,
tuyên phế lợi khí. Cho uống 'Gia vị tiền hồ thang". Bệnh nhân uống 4
thang, mạch chuyển hoãn hoạt, rêu lưỡi đã khá hơn nhiều, đờm chỉ còn hơi
vàng, không quánh, hết đau ngực, dễ thở, hết xuyễn. Như vậy là đàm hỏa
đã tán, khí đạo đã lợi. Lại cho uống tiếp bài thuốc này, bỏ bớt Khỏan
đông hoa, thêm Thiên hoa phấn 12g. Uống tiếp 5 thang thì bệnh khỏi hẳn.
Bàn luận: Trường hợp này các triệu chứng đều thuộc
về đàm hỏa bị bế tắc mà quá vượng, "Nhiệt giả hà chi", trị liệu cùng các
vị khổ hàn và vi tân cam của thang tiền hồ để thanh nhiệt hóa đàm, dùng
vị Cát cánh để đưa lên phía trên, cho tới được phế tạng. Khỏan đông hoa
tả nhiệt nhuận phế, tiêu đờm, trừ bỏ bực bội, cầm ho. Tỳ bà diệp tả phế
giáng hỏa, cho nên uống 4 thang thì hỏa tán đờm tiêu, hết xuyễn. Lại
dùng bài thuốc này bỏ bớt Khỏan đông hoa, thêm Thiên hoa phấn để lấy tác
dụng toan cam vi khổ hàn của nó để sinh tân nhuận phế, phục hồi phế âm
đã bị đàm hỏa làm thương tổ. Vì vậy chỉ dùng thêm 5 thang bệnh cũ đã
được trị khỏi hoàn toàn.
Viêm màng phổi tràn dịch
Biện chứng đông y: Phế hư phục cảm ngoại tà, phế
mất chức năng thanh túc làm cho phế khí không tuyên thông, tam tiêu bất
lợi, nước uống vào đọng lại giữa vùng phế ngực, cản trở đường đi của
chất thanh.
Cách trị: lý phế thanh nhiệt, lợi khí khu đàm.
Đơn thuốc: Tiểu sài hồ thang gia vị.
Công thức: Sài hồ 45g, Hoàng cầm 15g, Bán hạ 15g,
Qua lâu 25g, Chỉ xác 15g, Trần bì 15g, Tang bạch bì 15g, Bạch giới tử
10g, Cam thảo 5g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang chia 3 lần lúc đói.
Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nữ, 46 tuổi, đến khám
ngày 31-8-1978. Người bệnh kể là từ mùa xuân bắt đầu tức ngực, tắc thở,
hô hấp không thông, ban đêm càng nặng, nằm nghiêng bên trái càng thấy
khó thở, phải nằm ngửa thì mới thấy dễ thở. Ngày 8-8 đã kiểm tra tại một
bệnh viện, chẩn đoán viêm màng phổi, sau đó lại kiểm tra tại một quân y
viện cũng chẩn đoán như vậy, đều cho penicillin, streptomycin nhưng
không thấy kết quả rõ rệt. Bệnh nhân ngực đau tức, thở ngắn, khó thở, ăn
uống không ngon, đại tiện khô, tiểu tiện vàng, đầu nặng, tay chân bải
hỏai, tinh thần khí sắc còn tốt, nói năng yếu hơi, rêu lưỡi trắng, mạch
huyền. Chiếu X quang kết luận là viêm màng phổi tràn dịch. Cho dùng "Tiểu
sài hồ thang gia vị". Bệnh nhân uống thuốc 3 ngày thấy giảm ho, thở
thông suốt hơn trước. Tiếp tục uống thuốc đó đến ngày 11-9, bệnh nhân
thấy các triệu chứng đã giảm nhiều. Chiếu điện: Góc sườn hoành trái còn
một ít dịch, mặt cơ hoành không rõ. Uống tiếp đến ngày 9-10, chiếu điện
thấy khỏi hoàn toàn.
áp xe phổi
Biện chứng đông y: Thấp nhiệt nội uẩn, nhiệt độc
làm thương phế.
Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, trừ đàm hóa ứ.
Đơn thuốc: Sinh hoàng đậu tương.
Công thức: Hoàng đậu (vừa đủ). Rửa sạch, ngâm vào
nước cho nở ra, xay nhuyễn với nước, lọc bỏ bã đậu là được sữa đậu nành
sống. Mỗi ngày uống 3 lần mỗi lần chừng 300 ml (khi cảm thấy vị tanh của
đậu tương không nuốt được nữa thì thôi, trẻ em giảm liều).
Hiệu quả lâm sàng: Điền XX, nam, 58 tuổi, nông dân.
Ho, khạc đờm, ngực đau gần nửa năm. Lúc đầu sốt lạnh, sườn đau nhức, ho
thì rất đau, có lúc nôn ra đờm dính, bệnh kéo dài, khạc ra một lượng lợn
máu mủ, mùi tanh tưởi lạ lùng, thân thể gầy gò, sắc mặt tiều tụy, miệng
hầu khô, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch hoạt sác. Bảo người bệnh nhai đậu tương
sống để xem bệnh, người bệnh nhai thì thấy trong miệng có vị ngọt. Dùng
"Sinh hoàng đậu tương" được hơn 10 ngày thì lượng mủ giảm đi, giảm sốt,
ăn được nhiều hơn. Sau khi uống thuốc 20 ngày, bệnh nhân cảm thấy vị
tanh của đậu tương khí có thể nuốt được nên ngừng uống. Sau đó các chứng
đều giảm nhanh, khỏe dần. Theo dõi chưa thấy bệnh tái phát.
Bàn luận: ứng dụng Sinh hoàng đậu tương để trị áp
xe phổi trong thực tế thấy là khá thích hợp trong thời kỳ mưng mủ và vỡ
mủ. Lúc này áp xe vỡ mủ, thân nhiệt gần như bình thường nhưng khạc ra
nhiều máu mủ, thân thể hư nhược. Sữa đậu nành sống có tác dụng khử đàm
tống mủ ra thanh nhiệt giải độc, cầm máu sinh cơ, bổ phế phù chính.
Chẳng những sinh hoàng đậu tương có thể trị áp xe phổi trong điều kiện
nông thôn, mà còn có thể là một phươg tiện để chẩn đoán: tức là nếu bệnh
nhân nhai Sinh hoàng đậu thấy vị thơm ngọt thì phần lớn là áp xe phổi,
thấy vị tanh hôi thì phần lớn không phải là áp xe phổi. Đó chỉ kinh
nghiệm chưa có cơ sở khoa học. Theo thông tin các nơi thì trên lâm sàng
có thể điều trị áp xe phổi bằng Ngư tinh thảo, có tên Ngư tinh thảo là
vì có vị tanh của nó. Sinh hoàng đậu
Tích huyết phổi (sau chấn thương vùng ngực)
Biện chứng đông y: Ngoại thương tích ứ trong phổi.
Cách trị: Hoạt huyết hành ứ.
Đơn thuốc: Qua đế đào nhân hồng hoa thang.
Công thức: Qua đế 9g, Đào nhân 30g, Hồng hoa 30g.
Sắc nước đặc uống.
Hiệu quả lâm sàng: Bé trai XX, bị đập mạnh vào vùng
ngực, thở khó, hôm sau bệnh trở nên trầm trọng. Khám tây y thấy mạch đập
trầm đứt. Gõ vùng phế hai bên đều có tiếng đục dày đặc như ở can tạng,
tiếng tim nhỏ yếu, khám nhưng không điều trị. Khi đến chúng tôi cho ngay
Qua đế 9g, Đào nhân, Hồng hoa mỗi thứ 30g, sắc đặc mà uống, nôn ra rất
nhiều, tích ứ ở phổi đều do ho khạc mà tống ra, máu bầm đen, hồi phục.
Bàn luận: Bài này là gốc ở Đài Loan, trong "Trung y
dụng dược bí pháp kỳ nghiệm tập". Lời bàn viết: Bệnh này tuy nói là nguy
ngập, xem xét từ đầu, ứ huyết thường dễ thúc động, nhưng muốn làm tiêu
tán ngay là chuyện khó, đã đến ngực thì có thể làm cho nôn ra, so với
các phương pháp hoặc tiêu, hoặc hạ, hoặc châm cứu thì thuận tiên, nhanh
chóng, có hiệu quả hơn.
áp xe phổi
Biện chứng đông y: Tà nhiệt ẩn ở phế, uất lâu không
giải được, phổi thối rữa thành mủ.
Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, khử đờm trừ mủ.
Đơn thuốc: Phức phương ngư cát thang.
Công thức: Ngư tinh thảo 30g, Cát cánh 15g, Kim
ngân hoa 30g, Cam thảo 5g, hoàng cầm 10g, Đào nhân 10g, Đông qua nhân
30g, Sinh dĩ nhân 30g, Tượng bối mẫu 10g.
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, người bệnh nặng mỗi
ngày 1 thang. Người nhiệt nặng có thể thêm Hoàng liên 10g, người chính
hư có thể thêm Hoàng kỳ 15g.
Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi điều trị 40 ca phần lớn
có kết quả rất tốt. Hoạn XX, nữ, 19 tuổi, công nhân. Vì sốt, ho đau ngực
4 ngày mà vào viện. Xét nghiệm bạch cầu 12.000/mm3, trung tính 83%. Chụp
X quang thấy: phía trên phổi trái có một đám mờ lớn, ở giữa là vùng
trong suốt và mặt dịch phẳng. Chẩn đoán áp xe phổi trái. Sau khi vào
viện nhiệt độ còn liên tục cao 39-40oC, ho kịch liệt, đờm khạc ra như mủ,
kém ăn, miệng khô khát, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ, chất lưỡi vàng nhạt
bẩn, mạch hoạt sác. Cho "Phức phương ngư cát thang". Uống thuốc 1 tuần,
giảm sốt dần, sau 10 ngày thân nhiệt xuống bình thường. Ho và đờm mủ
giảm bớt. Lại uống thuốc trên 2 tuần nữa, các chứng trạng lâm sàng đều
hết. Kiểm tra lại bằng X quang: Viêm ở phía trên phổi trái có hấp thu rõ
ràng, mặt dịch phẳng không còn. Lại dùng bài thuốc trên có gia giảm điều
trị 2 tuần nữa. Chụp X quang kiểm tra lại: viêm ở phía trên phổi trái đã
hấp thu duy còn hang chưa hoàn toànkhép kín. Nói chung tình hình người
bệnh tốt được xuất viện. Hai tháng sau kiểm tra lại, không thấy còn hang
ở phía trên phổi trái.
Lao phổi ho ra máu
Biện chứng đông y: Nhiệt tà phạm phế, ứ huyết làm
tắc kinh lạc, không khử được ứ thì kinh lạc không yên.
Cách trị: Hóa ứ Kinh lạc.
Đơn thuốc: Bạch hoàng tứ vị tán.
Công thức: Bạch cập 4 phần, Sinh đại hoàng 3 phần,
Nhi trà 2 phần, Bạch phàn 1 phần. Tất cả tán bột mịn, mỗi lần uống 1g,
ngày uống 4 lần.
Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nữ, 45 tuổi. Vì bị lao
phổi nên từ 1 tháng trước đờm có máu tươi. Đã dùng thuốc đông y và tiêm
thuốc tây y để cầm máu nhưng đều không có hiệu quả. Sau khi chẩn đoán
cho dùng "Bạch hoàng tứ vị tán" 5 ngày sau hết hẳn ra máu.
Bàn luận: "Bạch hoàng tứ vị tán" ngoài việc dùng để
điều trị lao phổi ho ra máu, còn có thể dùng để điều trị giãn phế quản
ho ra máu, cũng thu được kết quả tốt.
en1, thuốc chữa bênh Hô hấp, thuốc
chữa Hô hấp, thuốc Hô hấp, chữa Hô hấp, đông y chữa Hô hấp, ho hap,
thuoc chua ho hap, thuoc chua ho hap, thuoc ho hap, chua ho hap, dong y chua ho hap,Thuốc Đông y, đông y chữa bệnh mãn tính, chữa bệnh bằng
thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y, dong y chua benh, chua benh
bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược, phòng khám, phòng khám nguyễn
hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám online, dong y, đông y gia
truyền, phòng khám gia truyền, phong kham nguyen huu toan, phong kham
dong y, phong kham gia truyen,viem xoang, hohap, benh hohap,
thuocchuaben hhohap, chuahohap, chuabenh hohap, thuoc hohap,
thuocchua hohap,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: số 482 lô 22C Đường lê Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP