Hiệu quả lâm sàng: Viêm dạ dày mạn là tên bệnh do y
học hiện đại gọi, nó thuộc phạm trù "vị thống" của đông y. Theo biện
chứng đông y, vị thống có thể chia làm thể ti vị hư hàn, thể can khí uất
kết, thể khí trệ huyết ứ, thể thực trệ... "Ôn vị chỉ thống thang" chủ
trị thể tì vị hư hàn, tì vị hư hàn tức là trung dương không chuyển vận
cảm thụ hàn tà, hàn ngưng khí trệ mà thành đau. Do đó dùng "Ôn vị chỉ
thống thang" để ôn trung tán hàn, lý khí chỉ thống, thì cái khí dương sẽ
được khôi phục, các chứng tự trừ tiết vậy.
Viêm dạ dày mạn tính và
loét hành tá tràng 96
Biện chứng đông y: Cam khí phạm vị.
2. can khí phạm vị
Triệu chứng:
Cách trị: Sơ can lý khí, hòa vị tiêu thực.
Đơn thuốc: Gia vị tam hương thang. (Thiên gia diệu
phương)
hương phụ
25
Mộc hương
5
Hoắc hương
15
Trần Bì
15
phật thủ
15
tam tiên
45
lai phục tử
40-50
Binh lang
10
Cam thảo
10
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Với người tì hư thấp vượng, thêm Bạch truật, Phục
linh;
Tì khí hư, thêm Đảng sâm;
Trung tiêu hư hàn, thêm Sa nhân, Thảo đậu khấu;
huyết ứ ở vị, thêm Bồ hoàng, Linh chi;
lưỡi chua, thì thêm Ngoã lăng tử,
vị nhiệt, thêm Sinh thạch cao, Hoàng cầm; \
ăn uống vẫn bình thường, thì bỏ Tam tiên, Lai phục
tử;
vô tâm hạ bĩ (tắc ở bụng trên) thì bỏ Binh lang
phiến;
vị âm hư thì giảm các vị lý khí một cách thích đáng,
thêm Thiên hoa phấn, Thốn đông.
Hiệu quả lâm sàng: "Gia vị tam hương thang" đã
được dùng nhiều năm trên lâm sàng, nếu kết hợp với tình trạng của mỗi
bệnh nhân mà có gia giảm thích đáng, đều có thể thu được kết quả tốt,
nói chung uống 1-2 thang đã thấy rõ hiệu quả, uống tiếp vài thang nữa là
có thể khỏi hẳn.
Bàn luận: "Gia vị tam hương thang" là bài thuốc chú
trọng lý khí để thuận khí cơ. Hành khí có thể hoạt huyết, hoạt huyết có
thể giảm đau. Khí huyết thông điều, chướng đau sẽ hết. Bài thuốc tuy có
vị lý khí với liều lượng lớn, nhưng thực tiễn lâm sàng đã chứng minh
thuốc không dẫn tới hao khí, nói chung sử dụng không có hại gì. Nguyên
nhân gây bụng chướng đau phần lớn là do khí trệ. Hơn nữa trong bài thuốc,
các vị lý khí phần nhiều là các vị bình hoà, không gây ra thương tổn lớn
đối với chính khí. Đương nhiên, bài này không phải là bài thuốc bổ ích,
cho nên đúng bệnh rồi thì ngừng dùng, không được dùng lâu dài.
4. can vị uất nhiệt
Biện chứng đông y: Can vị uất nhiệt.
Triệu chứng:
Cách trị: Tả nhiệt hòa vị.
Đơn thuốc: Gia vị cam thảo thược dược thang.
Bạch thược
30
Cam thảo
15
địa du
30
Hoàng liên
6
Sắc uống (không sắc lâu), mỗi ngày 1 thang.
Bàn luận: Trong quá trình ứng dụng lâm sàng, chúng
tôi thấy dùng "Gia vị cam thảo thược dược thang", nếu căn cứ vào biện
chứng mà gia giảm thích đáng, thì cũng có kết quả khá tốt trong điều trị
viêm dạ dày mạn tính.
Loét hành tá tràng
Biện chứng đông y: Tì dương suy tổn, vệ khí không
vững.
Triệu chứng:
Cách trị: Phù tì ích khí, hòa dinh cố vệ.
Đơn thuốc: Hộ vệ ích khí thang.
sinh Hoàng kỳ
12
tây Đẳng sâm
10
Bạch truật
9
Qui đầu
9
Bạch thược
9
Quế chi
9
Trần Bì
5
chích Cam
thảo
5
Sinh khương
3lát
đị táo
3quả
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Bàn luận: "Hộ vệ ích khí thang" là Bổ trung ích khí
thang bỏ bớt Thăng ma, Sài hồ, thêm Quế chi, Bạch thược, Sinh khương,
Đại táo. Đây cũng là bài thuốc xây dựng từ sự kết hợp Quế chi thang và
Bổ trung ích khí thang mà thành.
Loét dạ dày và hành tá tràng
Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ứ.
6. khí trệ huyết ứ
Triệu chứng:
Cách trị: Hoạt huyết ứ, chế toan chỉ thống.
Đơn thuốc: Hội thương tán.
ô tặc cốt
60
bối mẫu
30
bạch cập
60
sinh Cam thảo
30
nguyên hồ
30
đản hoàng
phấn
100
Các vị đều đem tán mịn, khi uống đem trộn với lượng
tương đương đường trắng,
lúc đầu uống ngày 3 lần, mỗi lần 3g; tùy theo triệu
chứng bệnh giảm đi mà chuyển thành mỗi ngày 2 lần hoặc 1 lần, mỗi lần
vẫn uống 3g; uống lúc đói, trước bữa ăn.
Nếu bệnh đã lâu, bị khoảng vài năm trở lên, có thể
cho thêm Tử hà sa (bột) 30g; nếu đã vài lần ra máu hoặc gần đây có đi
ngoài ra máu, thì có thể thêm Tam thất (bột) 30g; nếu dịch vị nhiều
axit, cho thêm Hoàng liên 24g, Ngô thù du 15g hoặc hydroxit nhôm 60g.
Hiệu quả lâm sàng: Đã quan sát hơn 200 bệnh nhân,
phần lớn những trường hợp uống 1 đợt có thể có tác dụng ổn định bệnh từ
3 đến 6 tháng, uống 2 đợt thì có tác dụng từ 8 tháng đến 1 năm, uống 3
đợt thì phần lớn khỏi hẳn.
Bàn luận: "Hội thương tán" là bài thuốc phát triển
từ nguyên phương Ô bôi tán, dựa trên cơ sở hơn 10 năm theo dõi trên lâm
sàng thấy kết quả rất tốt, cũng đã trao đổi với khá nhiều thầy thuốc,
đem dùng trên lâm sàng, được khá nhiều bệnh nhân hoan nghênh, tin dùng.
Loét dạ dày
Biện chứng đông y: Hỏa kết khí uất, phủ khí không
thông.
Triệu chứng:
Cách trị: Thanh nhiệt tán uất.
Đơn thuốc: Sài hồ thang gia giảm phương.
Sài hồ
12
Hoàng cầm
9
Bán hạ
9
Đại hoàng
6
Bạch thược
9
Chỉ thực
6
Sinh khương
12
táo
4quả
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang
Loét bờ cong nhỏ dạ dày
Biện chứng đông y: Khí cơ uất trệ, thấp nhiệt hun
đốt, túc ứ trở lạc.
8.khí cơ uất trệ, thấp
nhiệt hun đốt
Triệu chứng:
đau âm ỉ vùng dạ dày, ợ chua nhiều, miệng đắng, chua, khô và hôi. nửa
phía trước lưỡi có rêu vàng, bẩn gốc dày sắc đen, chất lưỡi bệu xanh
tím, mạch huyền tế.
Cách trị: Tân khai khổ tiết, hóa ứ chỉ thống.
Đơn thuốc: Phức phương tả kim hoàn (thang).
xuyên liên
3
Ngô thù
1.5
Bán hạ
10
xích thượng
10
Bạch thược
10
chế xuyên
quân(đại hoàng
6
Mộc hương
10
đoạn ngoãn
lăng
30
thất tiếu
tán
12
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Hoa XX, nam, 42 tuổi, công nhân.
Tới khám ngày 17-1201974. Đã hơn 10 năm nay bệnh nhân thường xuyên bị
đau vùng dạ dày, đã chụp barit dạ dày ở một bệnh viện, chẩn đoán là loét
bờ cong nhỏ dạ dày. Đã 2 lần bị xuất huyết ồ ạt, 10 ngày trước đây lại
nôn máu, sau khi điều trị, đã ngừng xuất huyết, nhưng vẫn đau âm ỉ vùng
dạ dày, ợ chua nhiều, miệng đắng, chua, khô và hôi. nửa phía trước lưỡi
có rêu vàng, bẩn gốc dày sắc đen, chất lưỡi bệu xanh tím, mạch huyền tế.
Chứng này là can vị đồng bệnh, thấp nhiệt hiệp với ứ cùng gây trở ngại
lẫn nhau, không những khí cơ uất trệ, thấp nhiệt hun đốt, mà còn có biểu
hiện tức ứ trở lạc. Cần trị bằng phép tân khai khổ tiết, hóa ứ chỉ
thống. Dùng "Phức phương tả kim hoàn (thang)". Uống 3 thang các chứng
đau dạ dày, ợ chua miệng khát đã giảm, cũng hết hôi mồm. Sau hai ngày
ngủ tốt. Đã gần hết rêu dày, đen bẩn; mạch huyền tế. Dùng bài thuốc trên
cho thêm Phật thủ 10g, Trần bì 10g, cho uống tiếp 4 thang. Uống hết
thuốc, rêu đen bẩn đã sạch, các chứng đều gần hết, mạch như cũ. Lại cho
dùng tiếp 3 thang "Phức phương tả kim hoàn (thang)" để củng cố kết quả
điều trị.
Sỏi táo đen dạ dày
Biện chứng đông y: ăn quá nhiều táo đen, ngưng tụ
thành ra tích.
Triệu chứng: : ăn táo tươi ước 40-50 quả, và 2 quả
thị, ăn xong thì thấy bệnh trên đau kéo dài, đầy chướng khó chịu, nửa
tháng nay bệnh càng nặng bệnh nhân gầy gò trông có dáng đau ốm lâu ngày,
chất lưỡi hồng nhạt, rêu mỏng, mạch nhược, tim phổi bình thường, cơ bụng
mềm, dưới mũi ức sờ thấy một cục 7x4 cm, cứng, ấn đau nhẹ, di động được,
Cách trị: Tiêu đạo công tích.
Đơn thuốc: Gia vị tiếu thừa khí thang.
chế xuyên phác
9
sơn tra
15
Thần khúc
15
sinh Mạch nha
15
Chỉ thực
9
sinh địa
hoàng
9
Binh lang
15
Mỗi ngày một thang, sắc hai nước, chia ra 3 lần mà
uống. Buồn nôn và nôn mửa thì thêm Chế bán hạ 9g, Trần bì 9; Bụng chướng
thì thêm Lai phục tử 15g; đại tiện táo bón thì thêm Nguyên minh phấn
9-15g; chảy máy dạ dày thêm Thiến thảo căn 9g, Ngẫu tiết 15g.
Hiệu quả lâm sàng: Những năm vừa qua tổng cộng có 7
ca sỏi táo dạ dày đã được điều trị bằng bài thuốc này, tất cả đều là
bệnh nhân nội trú. Trước khi điều trị các bệnh nhân đều có bệnh sử ăn
quá nhiều táo, và đã được chụp X quang bari sunfat chẩn đoán chắc chắn,
sau khi trị, mọi chứng đều hết, kết quả khỏi hẳn 5 ca, thuyên giảm 2 ca.
Biên XX, năm, 57 tuổi, ngày 30-11-1970, do bụng trên đau chướng đầy 1
tháng mà vào viện. Một tháng trước bệnh nhân. Kiểm tra X quang thấy
trong dạ dày có 3 cục to bằng hạt đào cho đến bằng nắm tay, mật độ không
đều, có thể di động, có hình ảnh vết loét ở bờ cong nhỏ. Chẩn đóan là
sỏi táo dạ dày và loét ở bờ cong nhỏ. Tiền sử nói chung không có gì đặc
biệt. Khám thấy: bệnh nhân gầy gò trông có dáng đau ốm lâu ngày, chất
lưỡi hồng nhạt, rêu mỏng, mạch nhược, tim phổi bình thường, cơ bụng mềm,
dưới mũi ức sờ thấy một cục 7x4 cm, cứng, ấn đau nhẹ, di động được, chưa
sờ thấy gan lách. Vào viện đến ngày thứ 5, bắt đầu điều trị bằng đông y.
Biện chứng đông y cho là ăn quá nhiều táo ngưng tụ thành ra tích, phép
trị là tiêu đạo công tích, dùng bài trên 5 ngaỳ bắt đầu đi ngoài ra táo,
sau đó một tuần tổng cộng đã bài xuất hơn một chục cục to bằng hạt đào,
uống thuốc hai tuần thì ra sạch. Kiểm tra X quang thấy hết cục, loét
cũng khỏi.
Bàn luận: Bệnh này ngày xưa gọi là "bạo chứng", "quả
tích", dùng bài này điều trị 7 ca đều là do ăn quá nhiều táo sống lạnh
mà ra, ngoài một ca có bệnh sử tì vị hư nhược, các ca khác đều khoẻ mạnh
vô bệnh, có thể thấy ăn một lúc nhiều táo là nguyên nhân sinh bệnh này.
Trị bệnh này theo nguyên tắc của "Nội kinh" là "kiên thì bóc, lưu thì
công, kết thì tán, khách thì trừ". Cho dùng Gia vị tiểu thừa khí thang,
trong đó Chỉ thực để tiêu bĩ, Hậu phác làm hết đầy, Sơn tra, Thần khúc,
Mạch nha để tiêu đạo, Bình lang, Đại hoàng để công kiên hạ tích, đủ tiêu
tích. Bài này đơn giản, rẻ tiền hữu hiệu, hơn hẳn phẫu thuật, có thể áp
dụng rộng rãi.
Viêm teo dạ dày mạn có sa niêm mạc dạ dày
Biện chứng đông y: Tì hư huyết ứ.
Triệu chứng:
có lúc đau bụng trên, thường đau sau khi ăn uống dạ dày đau chướng mỗi
ngày nặng, thường ợ hơi, niêm mạc ở đường cong lớn và đường cong nhỏ
trắng đỏ xen kẽ, chủ yếu là trắng, miệng đường cong nhỏ niêm mạc hang vị
có điểm xuất huyết, xung huyết, nhu động tăng, khi nhu động niêm mạc có
hiện tượng lật ra
Cách trị: ích khí kiện tì, hóa ứ hành trệ.
Đơn thuốc: Sâm linh tán.
Đẳng sâm
40
ngũ linh chi
15
Công thức: Đảng sâm 40g, Ngũ linh chi 15g. Sắc uống
mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Hà XX, 43 tuổi, công nhân, sơ
chẩn ngày 3-5-1978. Bệnh nhân mắc bệnh từ 10 năm trước, có lúc đau bụng
trên, thường đau sau khi ăn uống, mỗi năm trung bình lên cơn 1-2 lần,
mỗi lần kéo dài 10-20 ngày. Sau tháng 12/1977 dạ dày đau chướng mỗi ngày
nặng, thường ợ hơi, đã dùng nhiều thuốc tây giảm đau chống co thắt nhưng
không giảm. Tháng 1/1978 vào bệnh viện điều trị. Soi dạ dày thấy: niêm
mạc ở đường cong lớn và đường cong nhỏ trắng đỏ xen kẽ, chủ yếu là trắng,
miệng đường cong nhỏ niêm mạc hang vị có điểm xuất huyết, xung huyết,
nhu động tăng, khi nhu động niêm mạc có hiện tượng lật ra, chẩn đoán là
viêm teo dạ dày mạn có sa niêm mạc dạ dày. Phân tích dịch vị và chụp X
quang với bari sunfat đều phù hợp với chẩn đoán trên. Hai tháng nằm bệnh
viện đã trị bằng đông, tây y vẫn không giảm được đau, phải xuất viện,
tìm chỗ chữa. Khám thấy vị quản đau chướng, ăn xong thì càng đau chướng
kịch liệt, sợ ấn, không muốn ăn uống, tay chân bải hỏai. Đó là tì khí
bất túc, vị trệ huyết ứ. Nên trị bằng phép kiện tì ích hí, hóa ứ thông
trệ. Dùng bài "Sâm linh tán". Uống được 5 tháng, vị quản hơn giảm đau.
Thấy thuốc công hiệu bèn tiếp tục uống 18 thang nữa, vị quản cơ bản hết
đau, miệng hết khô, thang nữa thì hoàn toàn hết đau vị quản, mỗi bữa ăn
được trên dưới 200g cơm, không còn cảm giác khó chịu gì khác. Sau đó căn
dặn chú ý việc ăn uống, tránh các thức ăn rang nướng, dùng xen "Sâm linh
tán" cho đến tháng 8 năm 1978 kiểm tra lại: soi dạ dày thấy niêm mạc hết
các biến đổi bệnh lý, phân tích dịch vị thấy acid bình thường, X quang
có bari sunfat dạ dày và tá tràng đều không thấy gì khác thường. Sau khi
khỏi bệnh gần 2 năm, hỏi lại chưa thấy tái phát.
Bàn luận: Người xưa từng nói: Nhân sâm rất sợ Ngũ
linh chi, đem hai vị thuốc này mà phối ngũ là tương uý. Đảng sâm có tác
dụng giống Nhân sâm, mà trên thực tiễn lâm sàng đã thấy, Đảng sâm và Ngũ
linh chi dùng chung, chữa nhiều ca viêm dạ dày, loét dạ dày ỏư thể tì hư
huyết ứ, đều có tác dụng rất tốt, cần nghiên cứu thêm.
Viêm dạ dày cấp
Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, hàn lãnh ở
trong vị.
Triệu chứng:
Cách trị: lý khí hòa vị, ôn trung tán hàn.
Đơn thuốc: Lương phụ hoàn gia giảm.
cao lương khương
6-15
hương phụ
9-15
Thanh bì
9
Uất kim
9-18
sa nhân
9
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng "Lương phụ hoàn gia giảm"
để điều trị mấy trăm ca viêm dạ dày cấp do ăn uống thức ăn sống lạnh,
đều có công hiệu tốt, nhất là với các bệnh nhân thanh thiếu niên hiệu
quả rất hay, nói chung uống 1-3 thang là khỏi.
Bàn luận: Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, trên lâm
sàng nếu can vị khí thống, hàn thống có rêu lưỡi trắng mà lưỡi không đỏ,
mạch trầm trệ mà không huyền mạch, thì dùng "Lương phụ hoàn gia giảm"
đều có tác dụng tốt. Tuy nhiên nếu can vị có uất hỏa hoặc vị âm kiệt quệ,
chất lưỡi đỏ sẫm thì kiêng dùng.
Viêm hang vị
Biện chứng đông y: Bệnh lâu ngày vào lạc, kèm theo
ứ huyết.
Triệu chứng:
đau vùng dạ dày, nửa năm gần đây càng nặng, đã từng dùng nhiều thuốc vị
phải, vùng dạ dày cảm thấy như có vật gì dội lên, đại tiện khô táo,
không ợ hơi, ợ chua. Chất lưỡi đỏ, mạch tế huyền.
Cách trị: Điều khí hóa ứ.
Đơn thuốc: lý khí hóa ứ phương.
quảng Mộc hương
6
chế Phụ tử
10
Huyền hồ
10
Qui đầu
10
xích Bạch thược
10
chích Cam
thảo
4.5
kim linh tử
10
Thanh bì
6
Trần Bì
6
Công
thức: Quảng mộc hương 6g, Chế hương phụ 10g, Diên hồ sách 10g, Dương qui
10g, Xích bạch thược mỗi thứ 10g, Chích cam thảo 4,5g, Kim linh tử 10g,
Thanh, trần bì mỗi thứ 6g.
Sắc
uống, mỗi ngày một thang.
Hiệu
quả lâm sàng: Phù XX, nam 37 tuổi, công nhân, sơ chẩn ngày 20-3-1975.
Bệnh nhân đau vùng dạ dày, nửa năm gần đây càng nặng, đã từng dùng nhiều
thuốc vị phải, vùng dạ dày cảm thấy như có vật gì dội lên, đại tiện khô
táo, không ợ hơi, ợ chua. Chất lưỡi đỏ, mạch tế huyền. Sau khi khám, cho
"Lý khí hóa ứ phương". Uống được 7 thang, đau vùng dạ dày giảm, nhưng
vẫn còn cảm thấy vật dội lên, đại tiện đã nhuận, chất lưỡi đỏ, mạch tế
huyền, bài trên thêm Hồng hoa 4,5g, dặn uống thêm 7 thang. Sau khi uống
cảm thấy vật dội lên giảm đi, trung tiện tăng lên dễ chịu hơn trước, đại
tiện bình thường, ngủ tốt. Lưỡi đỏ, mạch tế còn huyền. Cho bài trên thêm
Đan sâm 12g, uống tiếp 7 thang nữa, về cơ bản bệnh khỏi, người bệnh rất
mừng. Vì sắp về quê, lại xin bài trên gia giảm ít nhiều, mang về 7 thang
tiếp tục uống để củng cố kết quả điều trị. Bài thuốc đó là: Mộc hương
6g, Chế hương phụ 10g, Toàn phục ngạnh 10g, Đương qui 10g, xích, bạch
thược mỗi thứ 10g, Chích cam thảo 4,5g.
Bàn luận: Viêm hang vị
là thuộc phạm trù "vị quản thống" của Đông y, mấu chốt biện chứng của nó
là đau ở dạ dày lâu ngày, đau khu trú ở chỗ nhất định. Chứng này chẳng
những là khí trệ thành đau, mà đã phát triển thành ứ tắc lạc của vị. "Lâm
chứng chỉ nam y án" đã nói:"Lúc đầu bệnh ở kinh, sau bênh lâu sẽ nhập
lạc, vì kinh thì chủ khí, lạc thì chủ huyết, sắt hiểu được rằng dĩ nhiên
phải trị huyết... mà theo phép thì tân hương lý khí, tân nhu hòa huyết,
nên xử lý như thế là lẽ đương nhiên". Trong Hồng hoa là thứ cay nhu hòa
huyết, làm cho khí cơ thông suốt, ứ huyết tiêu trừ, giảm nhẹ các chứng,
hết đau.
en1, thuốc chữa bênh Dạ dày , thuốc
chữa Dạ dày , thuốc Dạ dày , chữa Dạ dày , đông y chữa Dạ dày , da day,
thuoc chua da day, thuoc chua da day, thuoc da day, chua da day, dong y chua da day,Thuốc Đông y, đông y chữa bệnh mãn tính, chữa bệnh bằng
thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y, dong y chua benh, chua benh
bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược, phòng khám, phòng khám nguyễn
hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám online, dong y, đông y gia
truyền, phòng khám gia truyền, phong kham nguyen huu toan, phong kham
dong y, phong kham gia truyen,viem xoang, daday, benh daday,
thuocchuaben h daday, chua daday, chuabenh daday, thuoc daday,
thuocchua daday,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: số 482 lô 22C Đường lê Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP