Thượng bộ thuộc thiên; Dũ = cửa sổ, chỉ
cổ gáy. Huyệt ở vùng trên = thiên, có tác dụng trị bệnh ở
vùng cổ gáy, vì vậy gọi là Thiên Dũ (Trung Y Cương Mục).
Ở phía ngoài cổ, bờ sau và trong gai
xương chũm, bờ sau cơ ức-đòn-chũm, nơi góc hàm dưới. Hoặc
lấy nếp sau gáy làm chuẩn, huyệt ở 1/3 ngoài của đường nối
huyệt
Thiên Trụ (Bq.12) và
Thiên Dung (Ttr.17) .
Giải Phẫu:
Dưới da là bờ sau cơ ức-đòn-chũm, cơ gối
đầu, cơ đầu dài.
Thần kinh vận động cơ là
nhánh của nhánh của đám rối cổ sâu, nhánh thần kinh chẩm lớn,
nhánh thần kinh dưới chẩm.
Da vùng huyệt chi phối bởi
tiết đoạn thần kinh C3.
Thiên ‘Hàn Nhiệt Bệnh’ ghi: Bị điếc một
cách nhanh chóng, mạnh bạo, khí bị che lấp xuống dưới làm
tai điếc và mắt sáng, Thủ huyệt Thiên Dũ (LKhu.21, 17).