Não xuất huyết là do mạch não bị vỡ và máu chảy vào tổ chức
não gây nên. Bệnh thường gặp ở tuổi trên 50 có huyết áp cao
hoặc xơ cứng động mạch. Nam nhiều hơn nữ. Bệnh thường đột
ngột, triệu chứng lâm sàng chủ yếu là hôn mê, liệt tay chân,
méo miệng.
Triệu chứng lâm sàng
Xuất huyết não thường xảy ra trong lúc
bệnh nhân đang tỉnh táo, thường có liên quan đến trạng thái
tâm thần bị kích động đột ngột (quá tức giận, quá lo lắng,
quá vui, quá buồn hoặc dùng lực quá mạnh làm cho huyết áp
tăng đột ngột… gây nên).
1) Giai đoạn cấp diễn:
Bệnh nhân đau đầu, chóng mặt, buồn nôn,
nôn, một bên người yếu hoặc liệt, ý thức lú lẫn, dần dần đến
hôn mê, sắc mặt nóng đỏ, cổ gáy cứng, liệt mặt, chảy nước
dãi, thở dồn dập, cổ khò khè, bụng đầy, táo bón. Đa số có
sốt, huyết áp cao, mặt lưỡi có nhiều điểm ứ huyết, dưới lưỡi
nổi gân xanh, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng nhớt
hoặc vàng khô, mạch Huyền, Sắc, Đại.
Bệnh nhẹ thì lúc tỉnh lúc mê, thân lưỡi
cứng, nói không rõ tiếng, liệt nửa người, chân tay run giật.
Bệnh nặng thì hôn mê sâu, sắc mặt tái nhợt, chân tay liệt
mềm, cơ thể lạnh ướt, hơi thở ngắn, nhanh hoặc ngất quãng,
huyết áp hạ, đồng tử giãn, phản xạ ánh sáng chậm hoặc mất
hẳn, tiêu tiểu không tự chủ. Đối với những người có bệnh
huyết áp cao, tiêu tiểu không tự chủ, mạch Hư, Đại, không có
gốc.
Đối với những người có bệnh cao huyết áp,
tiểu đường, bệnh tim, xơ cứng động mạch nào, béo phì, thường
có những triệu chứng báo trước như đầu cổ đau, chóng mặt,
chân tay tê dại, chảy máu cam, xuất huyết võng mạc v.v...
2) Giai đoạn hồi phục:
Sau một thời gian hôn mê từ mấy ngày đến
mấy tuần thì bệnh nhân trở lại tỉnh táo, có thể nuốt và uống
nước được, hơi thở ổn định, sức khỏe chung tốt dần, chân tay
bên liệt có thể cử động dần.
3) Giai đoạn di chứng:
Thường 6 tháng sau, bệnh nhân hồi phục
lại một cách từ từ và để lại những di chứng với mức độ khác
nhau như liệt chi, chân tay cơ bắp teo gầy, run giật và đau
nhức, trí nhớ giảm sút hoặc đần độn...
4) Chẩn đoán bệnh: Dựa vào các tiêu chuẩn
sau:
a) Tuổi trên 40, bệnh phát đột ngột.
b) Có những triệu chứng: hôn mê, liệt nửa
người, méo miệng.
c) Có tiền sử huyết áp cao.
5) Nguyên nhân và cơ chế bệnh theo Y học
cổ truyền:
Bệnh xuất huyết não phát bệnh đột ngột
nhưng hình thành bệnh là một quá trình.
Theo Y học cổ truyền.
sự hình thành bệnh có liên quan đến các yếu tố bệnh lý sau:
a) Phong (Tức Can phong): lâm sàng có
triệu chứng hoa mắt, váng đầu, chân tay run giật do Can Thận
âm hư, thủy không dưỡng mộc, Can dương thịnh hóa phong sinh
bệnh. Ngoài ra, tình chí u uất hóa hỏa, đặc biệt lao tâm suy
nghĩ nhiều, tâm hỏa thịnh, hoặc giận dữ làm cho Can hỏa bị
kích động, hoặc ăn uống nhiều chất béo, mỡ tích trệ hóa hỏa,
đều dẫn đến Can phong nội động.
b) Hỏa: Can dương thịnh. trường Vị kết
nhiệt, thường biểu hiện mắt đỏ, bứt rứt, dễ cáu gắt, táo
bón.
c- Đàm: Thường do thích ăn nhiều chất béo
mỡ hoặc nghiện rượu, Tỳ Vị tích trệ, tân dịch tích tụ sinh
đàm, hoặc uất giận ưu tư nhiều quá, khí trệ sinh đàm. Trên
lâm sàng thường thấy tức ngực, buồn nôn, khạc ra đờm dãi, cơ
thể hoặc chân tay tê dại hoặùc có những cơn hoa mắt, váng
đầu.
d) Ứ Huyết: Nguyên nhân huyết ứ thườøng
do khí trệ, ngoài ra âm hư, huyết ít, khí hư vận hóa suy
giảm cũng gây nên huyết ứ. Thực ra 4 yếu tố gây nguy cơ tai
biến xuất huyết não trên đây đều có liên quan ảnh hướng lẫn
nhau và là nhân quả của nhau. Bệnh xuất huyết não là một
bệnh mang tính chất chính khí hư, tà khí thực mà trong giai
đoạn cấp biểu hiện chủ yếu là tà thực, nhưng do chính khí
vốn hư nên tà khí dễ làm hao tổn nguyên khí mà dễ dẫn đến tử
vong trong trạng thái hư thoát (dương hư, âm hư hoặc khí âm
hư, âm dương đều hư). Đến thời kỳ hồi phục và giai đoạn di
chứng thì tà khí đà bị đẩy lùi (nhờ các biện pháp cấp cứu và
chính khí thắng tà khí). Nhân chính khí hư tổn là chính, chủ
yếu là khí âm hư mà huyết ứ vẫn còn lưu tại kinh mạch.
Điều trị
1. Giai đoạn cấp tính:
Thường trong thời gian 1-2 tuần đầu của bệnh mà triệu chứng
chủ yếu là hôn mê. Thời gian hôn mê càng dài, càng sâu thì
tiên lượng bệnh càng kém. Do thể chất người bệnh và tình
hình bệnh lý khác nhau mà biểu hiện lâm sàng cũng khác nhau,
có thể chia làm 2 thể bệnh: chứng bế và chứng thoát.
Chứng bế
Triệu chứng: Hôn mê, liệt nửa người, méo
miệng, mắt trợn ngược, mặt đỏ, người nóng sốt, hàm răng
nghiến chặt, đờm nước dãi nhiều, họng khò khè, chân tay co
cứng, tiêu tiêu không thông, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch
Huyền, Hoạt, Sác, gọi là chứng ‘Dương Bế ', thường gặp trong
giai đoạn cấp.
Điều trị: Khai bế, tỉnh não, hoạt huyết,
chỉ huyết.
Châm ra máu các huyệt: Trung xung, Bá
hội, Tứ thần thông (hoặc châm ra máu 12 huyệt Tỉnh), kết hợp
châm Nhân trung, Thừa tương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc,
Lao cung, Thái xung, Dũng tuyền.
Hoặc dùng Nội quan, Nhân trung, Tam âm
giao, Hợp cốc, Ủy trung.
Chủ yếu dùng phép tả, mỗi ngày 1 - 2 lần,
không lưu kim, cho đến khi tỉnh, và tùy bệnh tình mà thay
đổi chọn huyệt cho phù hợp.
Thuốc thường dùng 'An Cung Ngưu Hoàng
Hoàn’, ‘Chí Bảo Đơn’ hoặc ‘Tử Tuyết Đơn’. Mỗi lần uống từ 1
– 2g đến 2-4g, ngày 2-4 lần, tán nhỏ hòa nước sôi uống hoặc
bơm bằng xông.
+ Hoạt huyết, chỉ huyết:
Bài thuốc: Dùng bài ‘Tê giác địa hoàng
thang’
Tê giác
20
Sinh địa
12
Xích thược
12
Đan bì
12
Hiện nay, ở Trung Quốc, dùng nhiều các chế phẩm Đơn sâm dưới
dạng thuốc tiêm, theo các báo cáo cho thấy kết quả rất tốt
+ Chứng dương bế (nhiệt bế) có thể dùng
bài thuốc sau có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, bình Can,
tức phong, an thần, hoạt huyết:
Sinh địa
10-15
Chi tử
10
Hoàng cầm
10
Qua lâu
15
Mang tiêu
10
Tê giác
15
Thạch quyết minh
15
Câu đằng
15
Xích bạch
15
Đan sâm
15
Tam thất
6
Trích thảo
3
Trúc lịch
30ml
Ngày uống 1 thang, tùy chứng gia giảm.
+ Chứng âm bế (thường gặp ở bệnh nhân vốn
dương hư, đàm thịnh, hàn đàm làm bế tắc thanh khiếu),
Pháp trị: ôn thông, khai khiếu.
Bài thuốc: Dùng bài Tô hợp hương hoàn
(Hòa Tễ Cục Phương) mỗi lần uống 2-4g, ngày 1-2 lần uống với
nước sắc Tế tân 3g, Gừng tươi 3-5 lát.
Nếu dương hư nặng (sắc mặt tái nhợt, tự
ra mồ hôi, chân tay lạnh, mạch Vi hoặc Phù Tế mà Huyền) thêm
Phụ tử, Hoàng kỳ, Xuyên khung, Tô mộc, Đương qui, Bạch cương
tàm, Ngưu tất, Tế tân để hoạt huyết thông lạc.
Nếu hôn mê, cấm khẩu, đờm nhiều, chính
khí muốn thoát: cần dùng bài ‘Tam Sinh Ẩm (Nam tinh, Bán hạ,
Phụ tử (đều dùng sống – sinh), mỗi thứ 10g), thêm Nhân sâm
15-30g, sắc uống ngay để chống hư thoát. Châm thêm Nhân
trung, Hợp cốc, cứu Túc tam lý, Dũng tuyền để hồi dương, cứu
nghịch.
Chứng thoát
Triệu chứng: Đột nhiên ngã quỵ hoặc do
chứng bế chuyển thành, có triệu chứng hôn mê, sắc mặt tái
nhợt, mắt nhắm, miệng há, hơi thở ngắn, gấp, hoặc có lúc
ngưng thở, tay chân duỗi ra, lạnh, toàn thân ướt lạnh, tiêu
tiểu không tự chủ, chân tay liệt mềm, lưỡi rút ngắn, mạch Vi
muốn tuyệt hoặc Hư Đại vô căn, huyết áp hạ. Thường chứng
thoát là âm dương và khí huyết đều hư hoặc do bệnh nhân
nguyên khí vốn rất hư đột quị là xuất hiện chứng thoát, hoặc
là sự diễn tiến xấu đi của chứng bế cho nên trong quá trình
cấp cứu chứng bế nếu phát hiện 1 - 2 triệu chứng của chứng
thoát cần chú tâm chữa cấp cứu kịp thời mới hy vọng cứu sống
bệnh nhân.
Điều trị: Hồi dương cứu thoát, dùng bài
‘Sâm Phụ Thang’ (Nhân sâm, Phụ tử, mỗi thứ 15-30g), trường
hợp ra mồ hôi không dứt, thêm Long cốt, Mẫu lệ mỗi thứ
80-60g.
Âm dương đều thoát: dùng ‘Sinh Mạch Ẩm’
hợp với ‘Sâm Phụ Thang,' thêm Sơn thù nhục, Bạch thược, Long
cốt, Mẫu lệ.
Đây là trường hợp cấp cứu trụy tim mạch
không thể dùng thuốc uống được mà phải tiêm truyền bằng
đường tĩnh mạch. Ở Trung Quốc dùng thuốc chích Sâm Mạch
(Nhân sâm, Mạch môn) mồi lần 4-10ml, cho vào 20ml dung dịch
Gluco 50%, chích tĩnh mạch 2-8 lần, sau đó tiếp tục dùng
dịch Sâm Mạch 10- 20ml cho vào dung dịch Gluco 10% -
250-500ml nhỏ giọt tĩnh mạch cho đến khi trạng thái choáng
được cải thiện, huyết áp ổn định. Và sau đó tiếp tục dùng
dung dịch Sâm Phụ mỗi lần 40-100ml, thêm vào 10% Gluco
250-500ml nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 2 lần. Tùy tình hình bệnh
mà duy trì dùng trong 7 đến 10 ngày.
- Kết hợp châm cứu: Chủ yếu cứu các huyệt
Khí hải, Quan nguyên, Thần khuyết, Dũng tuyền.
2. Giai đoạn hồi phục:
Sau thời gian cấp tính khoảng 1-2 tuần và qua điều trị tích
cực chứng bế hoặc chứng thoát, bệnh nhân qua cơn nguy kịch
chuyển sang giai đoạn hồi phục. Bệnh lý chủ yếu ở giai đoạn
này là chứng hư kèm huyết ứ, đờm trệ ở kinh lạc mà phần lớn
là thể khí hư, huyết ứ.
Triệu chứng: Tinh thần mệt mỏi, sắc mặt
vàng sạm, liệt nửa người, chất lưỡi xám nhạt hoặc có điểm ứ
huyết, mạch Tế Nhược hoặc Tế Sáp hoặc Hư Đại, huyết áp
thường không cao hoặc hơi cao.
Gia giảm: Thận hư thêm Can địa hoàng, Sơn
thù, Nhục thung dung, Ngưu tất, Tang ký sinh, Đỗ trọng.
Huyết áp cao thêm Thanh mộc hương, Thảo quyết minh, Hán
phòng kỷ.
Chân tay hồi phục chậm thêm Đan sâm,
Xuyên giáp để hoạt huyết
Quất hồng, Thanh bì hóa đàm, thông lạc.
3. Giai đoạn di chứng:
Thường sau 6 tháng hồi phục chức năng cơ
thể người bệnh tuy vẫn tiếp tục nhưng chậm lại và thường để
lại ít nhiều di chứng, có di chứng khó hồi phục trở lại bình
thường.
Bệnh ở giai đoạn này gần giống giai đoạn
hồi phục, chủ yếu là hư chứng (tùy từng bệnh nhân mà biểu
hiện thiên về khí hư, huyết hư, âm hư hoặc dương hư kiêm khí
huyết ứ trệ hoặc đờm thấp trở trệ, vì vậy
Phép chữa vẫn cần chú ý bồ ích khí huyết,
tư âm, tiềm dương, hành khí, hóa ứ, sơ thông kinh lạc.
Đối với giai đoạn này cũng như giai đoạn
hồi phục, ngoài việc dùng thuốc ra, kết hợp các phương pháp
luyện tập dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu… sẽ giúp hỗ trợ
nhanh sự hồi phục các chức năng vận động, lao động trí óc và
chân tay. 3 mặt điều trị cần thiết đối với người bệnh trong
giai đoạn hồi phục và di chứng là: Tự tạo cho mình một tinh
thầùn thanh thản, thoải mái, không để bị kích động tâm thần,
tự xây dựng cho mình một chế độ sinh hoạt điều độ, ăn uống
thanh đạm, làm việc vừa sức, không ham dục vọng, kết hợp với
sự luyện tập nhẹ nhàng thường xuyên, đều đặn… sẽ giúp phục
hồi sức khỏe, phòng chống tái phát bệnh.
Tham khảo thêm về bệnh
xuất huyết não, các vị thuốc, bài thuốc chữa xuất huyết não
Nhưng nếu thiếu cholesterol cũng làm màng tế
bào yếu, dễ gây
xuất huyết. ... đủ chất dinh
dưỡng cần thiết để người cao tuổi vẫn sống
mạnh khỏe như ngày
nào. ...
Chữa xuất huyết dưới da, đại tiện ra máu,
hội chứng lỵ, bệnh trĩ ỉa táo ra máu và dự
phòng
xuất huyết não: Hạt Muồng sao, hoa Hoè
mỗi vị 10g sắc uống. ...
Thuốc được dùng khi bị sung huyết não,
xuất huyết não, khạc ra máu, thổ huyết,
đổ máu cam, xuất huyết tử cung, xuất huyết
do trĩ; khi bị hoảng hốt và lo ...
Bài thuốc có hiệu quả rõ rệt đối với các
bệnh lý mạch máu não như thiểu năng tuần
hoàn não ,nghẽn mạch và
xuất huyết não gây liệt nửa người ,đau
đầu do rối ...
.. nói sảng, chứng kinh nguyệt thất
thường, kinh nguyệt khó, loạn thần kinh chức
nǎng, hysteria, suy nhược thần kinh,
xuất huyết não, xơ cứng động mạch,
...
Xuất Xứ: Giáp Ất Kinh. Đặc Tính:
+ Huyệt thứ 61 của kinh Bàng Quang.
... châm
xuất huyết cho đến khi
nào mầu
huyết biến (thành đỏ) mới thôi”
- Thiên 'Điên ...
Thần kinh vận động cơ là nhánh của
dây thần kinh sọ
não XI, nhánh của đám rối
... SSTrị các bệnh có
xuất huyết, máu thiếu, nấc cụt,
nôn mư?a do thần kinh, ...
Thần kinh vận động cơ là nhánh của
dây thần kinh sọ
não số XI và XII, ...
nơi có động mạch quay quanh (huyệt
Giáp Xa), châm
xuất huyết xong là khỏi ngay.
...
Xuất Xứ: Thiên 'Bản Du'
(LKhu.2). Đặc Tính: ... (“Châm
trị
huyết áp không ổn định do mạch
máu
não hình thành: Châm Khúc Trì
và Túc Tam Lý thường thấy
huyết...
Phối Uỷ Trung (Bq.40) [xuất
huyết], trị đơn độc, tà độc của
thời khí (dịch) (Châm Cứu Học
Thượng Hải). 15. Phối Bá Hội (Đc.20)
có tác dụng thanh
não, ...
Gặp thể ác tính, hôn mê bất tỉnh, tả
nhân trung để cứu tỉnh,
xuất huyết Hợp cốc, Thương
dương để hạ nhiệt thông trường Quan
Xung để thanh nhiệt ở tam tiêu.
...
Dũng tuyền là Tỉnh của Thận thuỷ,
cấp cứu tốt ,ở đây dùng để dẫn thuỷ
cứu hoả (châm không
xuất huyết). Sốt cao trên 400
thì dùng toàn bộ huyệt trong phương,
...
Tả hợp cốc, Nội đình để thanh tràng
vị,
xuất huyết Uỷ trung thanh nhiệt.
Xoa bóp: Điểm, bấm, véo thịt
bụng khi đau, kết hợp với thuốc, khi
nặng mất nước thì ...
xuất huyết não, thuốc chữa xuất huyết
não, thuốc chữa xuất huyết não, thuốc xuất huyết não, chữa xuat huyet
nao, đông y chữa xuất huyết não, xuất huyết não, thuoc chua xuat huyet
nao, thuoc chua xuat huyet nao, thuoc xuat huyet nao, chua xuat huyet
nao, dong y chua xuat huyet nao,Thuốc Đông y, đông y chữa bệnh mãn tính,
chữa bệnh bằng thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y, dong y chua
benh, chua benh bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược, phòng khám,
phòng khám nguyễn hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám online, dong
y, đông y gia truyền, phòng khám gia truyền, phong kham nguyen huu toan,
phong kham dong y, phong kham gia truyen,đau, đau xương, đau khớp, đau
thần kinh, đau thần kinh tọa, đau đầu, dau, dau xuong, dau khop, dau
than kinh, dau than kinh toa, dau, xuathuyetnao, benhxuathuyetnao,
thuocxuathuyetnao, chuaxuathuyetnao, chuabenhxuathuyetnao,
thuocchuaxuathuyetnao, thuocchuabenhxuathuyetnao,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y Nguyễn Hữu Toàn(Công ty cổ phần Y Dược
YHT) : số 482 lô 22C Đường lê Hồng
Phong - Hải Phòng.. GP : 197GCN HNY SYTHP