Đái tháo nhạt là một bệnh nội tiết mà
triệu chứng chủ yếu là đái nhiều do sự rối loạn chức năng
của hệ vùng dưới đồi (Hypothalamus - Tuyến yên) dẫn đến cơ
thể thiếu chất tiết tố kháng lợi niệu, chức năng tái hấp thu
nước của tiểu quản thận suy giảm gây nên tiểu nhiều, tỷ
trọng nước tiểu giảm, khát nước và uống nhiều nước.
Bệnh có thể gặp bất kỳ ở lứa tuổi nào,
nhiều nhất là vào tuổi thanh niên. Bệnh thuộc phạm trù chứng
‘Tiêu Khát’, theo y học cổ truyền.
Nguyên nhân
Theo y học
cổ truyền, chứng đái tháo nhạt có liên quan đến Phế, Tỳ (vị)
và Thận, có thể hiểu cơ chế sinh bệnh như sau: Phế chủ khí,
thông điều thủy đạo, trường hợp phế âm không đủ, phế cơ mất
chức năng thăng giáng, thủy dịch trong cơ thể không được
phân bổ đều khắp cơ thể mà xuống trực tiếp vào bàng quang
dẫn đến tiểu nhiều lần và lượng nhiều. Tỳ chủ vận hóa, tỳ
khí kiêm chức năng vận hóa thủy dịch, nếu chức năng này suy
giảm, nước không giữ được trong cơ thể mà thoát xuống bàng
quang ra ngoài. Mặt khác tỳ khí kém cũng dẫn đến phế khí suy
mà không thông điều được thủy đạo. Thận chủ thủy, thận khí
suy thì chức năng khí hóa rối loạn, bàng quang không được
chế ước nên tiểu nhiều. Sách ‘Cảnh Nhạc Toàn Thư’ ghi: "Dương
không hóa khí thì tân dịch không phân bổ trong cơ thể, thủy
không có hỏa thì chỉ có giáng mà không thăng nên chảy trực
tiếp vào bàng quang”.
Triệu chứng lâm sàng: Bệnh đái tháo đường
bắt đầu có thể từ từ hoặc đột ngột, lượng nước tiểu rất
nhiều có thể từ 5000ml - 10.000ml trong 24 giờ, tỷ trọng
thường thấp từ 1.001 – I005, tiểu trong, do nước tiểu nhược
trương mà thẩm thấu áp huyết tương thường tăng nhẹ nên bệnh
nhân uống nhiều nước mà thích uống nước lạnh. Nếu cho uống
đủ nước, nhiều bệnh nhân cơ thể không bị ảnh hưởng gì, ngoài
việc thèm uống và khát. Trường hợp thiếu nước không kịp bổ
sung, sẽ xuất hiện trạng thái mất nước nghiêm trọng, áp lực
thẩm thấu huyết tương tăng cao cùng với nồng độ Natri huyết
thanh tăng cao nhiều dễ gây tử vong. Trường hợp bệnh kéo dài
lâu ngày, dung tích bàng quang tăng mà số lần tiểu có thể
giảm.
Chẩn đoán bệnh:
1. Triệu chứng lâm sàng: Tiều nhiều lần,
lượng nước tiểu nhiều, nước tiểu trong như nước lạnh, tỷ
trọng thấp, khát nước, uống nhiều.
2. Thử nghiệm nhịn uống: vì nguyên nhân
bệnh là do thiếu chất hormon kháng lợi niệu (ADH) nên lượng
nước tiểu vẫn nhiều và tỷ trọng nước tiểu vẫn thấp.
3. Thử nghiệm nước muối ưu trương: Sau
khi chích nhỏ giọt nước muối ưu trương, lượng nước tiểu vẫn
không giảm, tỷ trọng nước tiểu vẫn thấp. Thông thường cần
phân biệt chẩn đoán với bệnh tiểu đường (xét nghiệm Gluco
máu cao, Gluco nước tiểu dương tính...).
Điều Trị
1. Biện
chứng luận trị: Nguyên tắc chung điều trị bệnh đái tháo nhạt
chủ yếu là bổ hư. Bệnh biểu hiện chủ yếu là âm hư nhưng
trường hợp mắc bệnh lâu ngày có thể dẫn đến dương hư. Trên
lâm sàng thường gặp các thể bệnh và biện chứng luận trị như
sau:
1)
Phế vị âm hư:
Triệu chứng: khát nhiều thích uống nước
lạnh, miệng lưỡi khô, tiểu nhiều lần, lượng nước tiểu nhiều,
lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Hoạt Sác.
Pháp: Thanh dưỡng phế vị.
Bài thuốc: Bạch hổ nhân sâm thang gia
giảm:
Nhân sâm
10
Sinh địa
12
Thiên hoa
12
Ngọc trúc
12
Thiên môn
12
Mạch môn
12
Địa cốt bì
12
Đan sâm
12
Đan bì
12
Thạch cao
40-60
Tri mẫu
10
Sinh Cam thảo
4
Sắc uống.
gia giảm.
Hoặc dùng
bài Mạch Môn Đông Thang gia giảm: Hoàng cầm, Mạch môn, Cát
căn đều 15g, Tri mẫu, Trúc diệp, Ô mai đều 10g, Lô căn 10g,
Thiên hoa phấn, Sa sâm đều 20g (bài thuốc kinh nghiệm của
Dương Phù Hải).
2)
Thận Âm Hư:
Triệu chứng: khát uống nhiều, tiểu nhiều
và nhiều lần, lòng bàn chân tay nóng, váng đầu, mệt mỏi, đau
lưng, mỏi gối, lưỡi đỏ, mạch Tế Sác.
Pháp: Tư thận, dưỡng âm, thanh nhiệt,
sinh tân.
Bài thuốc: Lục Vị Địa Hoàng Hoàn gia
giảm:
Sinh địa
20
Hoài sơn
20
Đan bì
12
Bạch linh
12
Mạch môn
12
Thiên hoa
12
Huyền sâm
12
Tang phiêu tiêu
10
Sơn thù
12
Ngũ vị
4
Cam thảo
4
3)
Thận Dương Hư: Thường bệnh lâu ngày, âm hư dẫn đến dương
hư, thường người mệt mỏi, sợ lạnh, uống nhiều, tiểu nhiều,
sắc mặt xạm khô, kém tươi nhuận, đau lưng, váng đầu chóng
mặt, lưỡi nhợt rêu dày trắng, mạch Trầm Tế.