Chứng anh là loại bệnh của tuyến giáp, thường được
chia làm các chứng Khí Anh, Nhục Anh, Thạch Anh, Anh
Ung. Đặc điểm chủ
yếu của chứng anh là: cổ sưng hoặc có khối u, di
động theo động tác nuốt, khó tiêu và khó vỡ...
Hai bên họng mọc mụn to như nấm (khuẩn),
hoặc như bèo cái, cao mà dầy, mầu đỏ tím, chạm đến dễ bị
chảy máu, nuốt khó, nấm ngày càng lớn, hơi thở hôi, khan
tiếng, tiếng nặng. Phụ nữ bị nhiều hơn...
Là một dạng bệnh nặng về họng làm
cho khó thở, trong họng có nhiều đờm. Thuộc loại Khó Thở Thanh Quản Cấp
Tính. Người xưa xếp Hầu Phong vào loại
Hầu Tý...
Lúc đầu sốt, rét, họng sưng, nổi
vết ban đỏ, nuốt xuống thì đau, khát, ngực đầy, rêu lưỡi
vàng nhờn, rìa lưỡi và chót lưỡi đỏ sẫm, mạch Sác hoặc Trầm
giống như Phục. Sau đó đầu họng lở loét, hơi thở hôi, khắp
cơ thể nổi mụn đỏ. Vì vết thương lở loét, có những
hạt nhỏ như cát, mầu đỏ, vì vậy gọi là Lạn Hầu Đơn Sa...
Là trạng thái máu ở
Phổi do ho mà ra hoặc toàn là máu, hoặc máu lẫn đờm.
Ho ra máu chỉ là
triệu chứng của nhiều nguyên nhân, nhưng triệu chứng lâm
sàng có nhiều điểm giống nhau trong mọi trường hợp.
Ho ra máu có thể xẩy
ra đột ngột trong lúc người bệnh cảm thấy khoẻ mạnh, hoặc
sau khi hoạt động mạnh, sau khi ăn nhiều, nói nhiều, xúc cảm
mạnh, thay đổi thời tiết đột ngột hoặc trong giai đoạn hành
kinh.
Thông thường 90% trường hợp ho ra
máu là do bệnh lao đang tiến triển (Nếu kèm ho kéo dài, sốt
nhẹ, sút cân thì càng chắc chắn). Nếu ho ra máu chút ít lẫn
trong đờm, tái phát một vài lần mà không có sốt hoặc sút cân
cũng nên nghĩ đến bệnh lao kín đáo.
Trạng thái âm thanh
không phát ra được như bình thường còn gọi là khản tiếng,
mất giọng
Mất tiếng thường do
bệnh ngoại cảm nhưng cũng có thể là bệnh nội thương do tạng
phủ suy nhược. Sách ‘Trực Chỉ Phương’ viết: "Phế là cửa ngõ
của thanh âm, Thận là gốc của thanh âm ".
Như vậy tắt hay là
mất giọng có liên quan đến Phế và Thận.
Chứng: Tự nhiên trong họng nổi lên một vết phỏng, che lấp
đầu họng, mầu đỏ hoặc tím đen. Da nốt bỏng nổi lên mà mỏng.
Vì bệnh phát ở họng (hầu) một cách nhanh chóng (phi dương),
cho nên gọi là Phi Dương Hầu...
Viêm a-mi-đan, trong y học cổ truyền gọi là chứng nhũ nga. Nhũ nga là ở
2 bên họng trong hố hạnh nhân sưng lên thành một cục có hình như con
ngài tằm, cho nên gọi là nhũ nga, nếu sinh ra một bên gọi là đơn nhũ
nga, 2 bên đều mọc là song nhũ nga. Sưng cao, xung quanh chân thu gọn,
mặt ngoài cao thấp không bằng, lúc mới mọc sợ rét phát nóng, đỏ hồng mà
đau, ăn nuốt khó khăn, miệng ráo lưỡi khô, mạch sác hữu lực, nặng thì
ngoài gỏy sinh ra hạch nhỏ lổn nhổn như hạt đỗ, di động. Có khi trên nhũ
nga sưng có màng màu vàng hoặc trắng như miếng đờm đặc, hoặc như điểm
sao không chảy máu, nếu có hiện tượng lở loét gọi là lạn hầu nga. Chứng
này phát ở bên trái là thuộc về tâm kinh phát, ở bên phải là thuộc về
phế kinh. Một bên là nhẹ, hai bờn là nặng, loột ra thì càng nặng hơn...
Đây là
một bệnh dai dẳng khó chữa, người bệnh thường xuyên có cảm
giác họng khô, rát, ngứa, ho, họng vướng như hậu sản, họng
có hạt, đã đốt hạt nhưng chẳng mấy lúc lại tái phát rất khó
chịu. Đó là do phế âm suy kém, lại bị viêm đi viêm lại nhiều
lần gây ra. Tuy có thể phân ra nhiều thể bệnh để chữa trị,
nhưng tổng hợp lại chỉ cần có bài thuốc thích hợp nhuận phế
dưỡng huyết là bệnh khỏi. Qua nhiều đời nghiên cứu, kinh
nghiệm nhà thuốc Nguyễn Hữu Toàn đã có bài thuốc VHM2
trị khỏi bệnh này...
Người
bệnh ho, hen kéo dài, tức ngực, khó thở, khạc đờm, …lâu ngày
dẫn đến tắc mạch phổi, suy tim, nguy cơ tử vong cao. Tuy
bệnh có rất nhiều thể khác nhau nhưng chung qui đều do đờm,
nhiệt và hư gây nên. Nếu đờm dễ khạc là bệnh thuộc thể đàm
thấp dùng
VPQ đờm thấp Nếu đờm ít, đờm khó ra, hoặc không có đờm
là thuộc âm hư phế nhiệt dùng ngay
VPQ Phế nhiệt. Nếu bệnh lâu ngày, phế hư, dãn phế
quản, suy tim, động làm là thở gấp dùng VPQ 3 thì
bệnh sẽ khỏi, bệnh nặng cũng sẽ ổn định...