Ẩm
chứng là thuỷ dịch của các bộ phận trong cơ thể đình tích
lại,không chuyển hoá được ,
Trong phạm vi rộng chia làm 4
loại: ở tràng vị gọi là đàm ẩm, ở ngực sườn gọi là huyền ẩm,
phân tán ra tứ chi gọi là dật ẩm, ở phổi gọi là chi ẩm, …
Trên lâm sàng thường gặp ở
các bệnh mãn tính như viêm phế quản, hen, viêm phúc mạc,
công năng tràng vị rối loạn,
Biểu hiện lâm sàng: dạ dầy có
tiếng nước óc ách,sôi bụng, chân tay thũng nặng,ngực khó
chịu, đau sườn, ho khạc cũng đau nhói xuyễn thở đoản khí,
nôn mửa ra bọt rãi, vùng Lưng có mảng lạnh bằng bàn tay,
chóng mặt, hoa mắt ,mặt hơi phù, Rêu trắng nhớt ,mạch huyền
hoặc trầm huyền,
Nguyên Nhân
Có thể do nội nhân và ngoại
nhân.
Nội nhân do dương khí bất
túc, tân dịch vận hóa vô lực gây nên.
Ngoại nhân do do cảm nhiễm
hàn thấp lâu ngày hoặc tổn thương ăn uống, khiến dương khí
bị uất không vận hóa được gây nên.
Trong quá trình phát bệnh,
hai loại này thường ảnh hưởng lẫn nhau.
+ Ngoại cảm hàn thấp: Khí
hậu ẩm lạnh, hoặc lội nước dầm mưa, thủy thấp từ bên ngoài
thấm vào, phần dương bảo vệ bên ngoài bị thương trước tiên,
dần dần từ biểu vào lý, dương khí của nội tạng bị thấp tà
làm khốn đốn đến không được thoải mái khiến cho thủy thấp ứ
đọng mà thành bệnh. Sách ‘Tố Vấn’ viết: “Thấp tà thắng thì
người ta bị ẩm tích lại mà thành chứng tâm thống”.. đó là
chỉ trường hợp này.
2) Bị tồn thương do ăn uống
- như uống nước lạnh hoặc ăn nhiều thứ sống lạnh, nóng và
lạnh làm tổn thương nhau, dương khí ở trung tiêu bị uất kết,
Tỳ không vận hóa được đọng lại thành chứng ẩm, như sách Kim
Quỹ Yếu Lược viết: “Uống nước nhiều, ắt sẽ bị khó thở
(suyễn), và ăn ít uống nhiều, nước đọng lại ở dưới Tâm. ...
Nói lên ăn uống không điều độ, hoặc uống nước nhiều sẽ đọng
lại thành chứng ẩm.
3) Dương khí suy yếu: Thủy
dịch của cơ thể phải nhờ dương khí mới biến hóa được. Người
bị ốm lâu thể lực yếu hoặc vì tuổi cao khí yếu, dương khí Tỳ
Thận bất túc, thủy dịch khó chuyển hóa, bị ứ đọng lại thành
chứng ẩm.
Biện Chứng
Trước tiên cần phân biệt ẩm
tà ứ đọng ở vị trí nào mới có thể có biện pháp điều trị.
Ẩm tà lưu ở Vị Trường thì
vùng trung quản có tiếng nước óc ách, uống nước vào thì mửa,
hoặc trong ruột có tiếng sôi réo.
Ẩm tà đọng ở Phế thường có
chứng ho suyễn, khạc đờm có nhiều bọt trắng.
Ẩm tà ở dưới hông sườn thì
hông sườn trướng đau, khi ho thì đau tăng.
Ẩm tà ứ đọng ở Bàng quang
thì bụng dưới căng cứng hoặc chướng đầy, tiểu tiện không
thông...
Đồng thời, còn căn cứ vào
các đặc điểm của bệnh như dương hư âm thịnh, hoặc bản hư
tiêu thực, linh hoạt nắm vững hư hay thực, hoãn hay cấp, khi
biện chứng mới xác đáng.
Về phương diện điều trị,
sách ‘Kim Quĩ Yếu Lược’ có nêu ra các phương pháp: tuyên
tán, lợi thủy, trục thủy và ôn hóa khác nhau, và đề ra
nguyên tắc "Bệnh đàm ẩm, nên dùng thuốc ấm để hòa". Đó là do
ẩm là dương tà, gặp lạnh thì tụ, được ấm thì lưu thông, dù
dùng thuốc tuyên tán, lợi thủy hay trục ẩm đều phải chú ý
đến việc ôn hóa. Nếu nghiêng về dương hư, phải lấy kiện Tỳ
ôn Thận làm chủ yếu, để củng cố gốc.
Điều trị:
1. Ẩm tà hại phế
Triệu chứng: Ho suyễn, ngực
đầy, thậm chí không nằm được, đờm nhiều, gặp thời tiết lạnh
thì bệnh tăng. Thoạt tiên có thể có biểu chứng: sốt, sợ
lạnh, cơ thể đau, dần dà vùng mặt bị phù thũng nhẹ, lưỡi
nhạt, mạch Huyền khẩn.
Biện Chứng: Do ẩm tà tích ở
Phế, Phế khí không tuyên giáng, làm cho ho và ngực đầy,
không nằm được, đờm nhiều. Thủy theo khí đưa lên làm cho phù
thũng vùng mặt. Rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Huyền
khẩn là dấu
hiệu hàn ẩm thịnh ở trong.
Pháp: Ôn phế, hóa ẩm, bình
suyễn, chỉ khái.
Chủ yếu dùng bài thuốc Ôn
Phế Hóa Ẩm Thang (tức Tiểu Thanh Long Thang) gia giảm.
Tiểu
thanh long thang
Ma
hoàng
12
Quế chi
12
Bán hạ
12
Tế
tân
6
Bạch thược
12
Can khương
12
Trích thảo
12
Ngũ
vị
6
Bài này vừa ôn Phế hóa ẩm,
vừa biểu tán phong hàn, thích hợp với chứng do
hàn ở bên
ngoài dẫn đến nội ẩm.
2. Huyền ẩm.
Triệu chứng: Ngực sườn
chướng đau, khi ho thì đau tăng, xoay mình và hít thở cũng
đau, đôi khi hơi thở ngắn, rêu lưỡi trắng, mạch Huyền. chứng
này thường gặp ở những bệnh nhân tràn dịch màng phổi.
Biện chứng: Ngực sườn là con
đường thăng giáng của khí cơ, nếu ẩm ứ đọng ở ngực sườn, cản
trở lưu thông đường thở gây nên đau ngực và khó xoay chuyển.
Thủy ẩm dồn ngược lên Phế do đó ho và ngắn hơi, rêu lưỡi
trắng, mạch Huyền là triệu chứng thủy ẩm ứ đọng trong cơ
thể.
Pháp: Công trục thủy ẩm.
Dùng bài Thập Táo Thang gia
giảm. Phương này trục ẩm hạ mạnh, chỉ được dùng khi ẩm tà
ủng thực mà chính khí chưa suy. Trong bài có Cam toại,
Nguyên hoa, Đại kích, trục thủy mạnh, liều lượng nên dùng
vừa phải. Nếu bệnh ở loại chính hư tà thực, có thể dùng Đình
Lịch Đại Táo Tả Phế Thang hợp với Tam Tử Thang gia giảm.
3. Ẩm ứ đọng ở trường vị
Triệu chứng: Hình thể gầy
ốm, ăn uống kém, trong dạ dầy có tiếng nước óc ách hoặc sôi,
tiêu lỏng, sợ lạnh, nhất là vùng lưng, đôi khi chóng mặt,
hoa mắt, hồi hộp, ngắn hơi, rêu lưỡi trắng, mạch Huyền Hoạt.
- Biện chứng: Tỳ Vị kiện vận
mất chức năng cho nên ăn uống sút kém, thủy cốc không hóa ra
chất tinh vi để nuôi dưỡng cơ thể cho nên gầy còm. Thủy ẩm
đọng ở trong dạ dày hoặc chảy xuống ruột, không chuyển hóa
được, uống vào dễ mửa hoặc bụng óc ách, sôi, tiêu lỏng.
Thanh dương bị ẩm tà ngăn trở không phát huy được, cho nên
sợ lạnh, chóng mặt, hoa mắt. Thủy ẩm tràn lên Tâm Phế, làm
cho hồi hộp, ngắn hơi; Rêu lưỡi trắng, mạch Huyền Hoạt là
hiện tượng hàn ẩm ứ đọng.
Pháp: Ôn dương, lợi thủy.
Dùng bài Linh Quế Truật Cam
Thang để lợi ẩm và ôn Tỳ dương.
Linh quế
truật cam thang
Bạch linh
16
Quế chi
12
Bạch truật
12
Cam thảo
18
Chủ trị: Ôn trung trừ thấp
chữa đờm ẩm ngực đầy huyễn vựng
Trong bài có Phục linh vị
đạm, có tác dụng thấm dẫn nước chảy xuống dưới
Dương hư nặng, có thể dùng
thêm Can khương, Nhục quế để lấy tân ôn trợ dương, hiệu quả
càng nhanh.
Bệnh tình khá nặng có triệu
chứng vùng bụng chướng đầy, sôi bụng, táo bón, miệng khô,
lưỡi ráo, rêu lưỡi trắng nhớt hoặc vàng tro, mạch Trầm
huyền, đó là ẩm tà đọng ở
trườngvị lâu ngày hóa nhiệt,
Pháp: Theo phép lợi thủy,
trục ẩm,
dùng bài Kỷ Tiêu Lịch Hoàng
Hoàn gồm những vị cay đắng,
Kim quĩ yếu lược
Kỷ tiêu lịch hoàng
hoàn
Phòng kỉ
40
Đình lịch tử
40
Tiêu mục
40
Đại hoàng
40
Có tác dụng tuyên tiết để
tiêu thủy. Có đằng trước và đằng sau khiến thủy ẩm bài tiết
theo đường đại, tiểu tiện.
4. Ẩm tà ứ đọng ở bàng quang
Triệu chứng: Bụng dưới
chướng đầy, tiểu tiện không thông, chóng mặt, hoa mắt, rêu
lưỡi trắng, mạch Huyền hoạt.
Biện chứng: Ẩm tà ứ đọng ở
Bàng quang, khí hóa không lợi cho nên bụng dưới chướng đầy
mà tiểu ít. Nước tràn lên trên thì gây nên chóng mặt, hoa
mắt. Rêu lưỡi trắng, mạch Huyền Hoạt đều là chứng hậu của
thủy ẩm ứ đọng.
Pháp: Hóa khí, hành thủy.
Dùng bài Ngũ Linh Tán.
Ngũ linh
tán
Trư linh
12-18
Trạch tả
12-20
Bạch linh
12-18
Quế chi
4-8
Bạch truật
12-18
Trong bài có Quế chi, Bạch
truật để ôn dương hóa khí;
Phục linh, Trư linh, Trạch
tả để đưa nước chảy xuống, đồng thời có công hóa khí hành
thủy.
Nếu bụng dưới co cứng cảm
giác lạnh, suyễn, hơi thở ngắn, ớn lạnh, chân tay lạnh, lưỡi
bệu mà nhuận, mạch Trầm tế là chứng hậu của Thận dương hư
suy, nên tăng cường sức ôn Thận, hóa ẩm.
Dùng bài Ngũ Linh Tán có
thể thêm Phụ tử, Nhục quế.
Nếu bệnh nhẹ có thể dùng
bài Thận Khí Hoàn điều trị tiếp tục.
Tế sinh
thận khí hoàn
Thục
địa
24
Hoài
sơn
12
Đan bì
9
Bạch
linh
9
Trạch
tả
9
Sơn
thù
12
Nhục
quế
4-8
Phụ tử
4-8
Ngưu
tất
10
Sa
tiền
16
Chứng Dật Ẩm ghi trong sách
‘Kim Quỹ Yếu Lược’ thì chứng trạng chủ yếu là đau nhức nặng
nề toàn thân. Thậm chí chân tay phù thũng, căn cứ vào đó, có
thể xếp Dật ẩm thuộc phạm vi thủy thũng. Sách ‘Y Tông Kim
Giám’ cũng ghi: "Dật ẩm tức ngày nay gọi là phong thủy, bì
thủy", đó là lý do không giới thiệu Dật ẩm trong ẩm chứng ở
đây nhưng lại có ảnh hưởng đến nhau.
Tóm lại, ẩm chứng thuộc loại
dương hư âm thịnh, ‘bản’ hư mà "tiêu' thực. ‘Bản’ thuộc Tỳ
Thận dương hư không vận hóa được chất tinh vi, ‘Tiêu' là
thủy ẩm ứ đọng. Còn kiện Tỳ ôn Thận là phép chính trị, đợi
khi thủy ẩm tạm ổn, rêu lưỡi hóa dần, mạch chuyển Hư Nhược,
vẫn cần phải ôn bổ Tỳ Thận, phù chính đã làm bền gốc để củng
cố về sau: Đồng thời chú ý phòng ngừa ngoại tà xâm phạm, hạn
chế rượu, thuốc và thức có mỡ, kết quả điều trị càng được
nâng cao.
ẩm chứng, thuốc chữa bênh ẩm chứng, thuốc
chữa ẩm chứng, thuốc ẩm chứng, chữa ẩm chứng, đông y chữa ẩm chứng, am
chung, thuoc chua am chung, thuoc chua am chung, thuoc am chung, chua am
chung, dong y chua am chung,Thuốc Đông y, đông y chữa bệnh mãn tính,
chữa bệnh bằng thuốc đông y, bệnh mãn tính, thuoc dong y, dong y chua
benh, chua benh bang thuoc dong y, man tinh, đông y dược, phòng khám,
phòng khám nguyễn hữu toàn, mãn tính, mạn tính, phòng khám online, dong
y, đông y gia truyền, phòng khám gia truyền, phong kham nguyen huu toan,
phong kham dong y, phong kham gia truyen,đau thần kinh, viem, viem tuyen
vu, viem than, viem gan, viem hong, viem xoang ,đau thần kinh tọa, đau
đầu, dau, dau xuong, dau khop, dau than kinh, dau than kinh toa, dau,
amchung, thuocchuabenhamchung, chuabenhamchung
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: 116B Đà nẵng Quận Ngô quyền - Hải phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP