Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 4g, Truật 4g, Phục
linh 4g, Cam thảo 1-2g, Sinh khương 3-4g, Đại táo 1-2g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Dùng trị các chứng vị tràng hư nhược,
viêm dạ dày mạn tính, đầy bụng, nôn mửa, ỉa chảy ở những người gầy, sắc
mặt xấu, không muốn ǎn, người dễ mệt mỏi.
Giải thích:
Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài thuốc gần
với bài Nhân sâm thang trong các bài thuốc cổ, bỏ Can khương mà thêm Phục
linh. Phần nhiều là người ta thêm Sinh khương và Đại táo để dùng. Đây là
bài thuốc cơ bản dùng cho những người vị tràng yếu, có chiều hướng thiếu
máu, sức khỏe yếu. Tuy nhiên, những người tuy có chiều hướng vị tràng hư
nhược nhưng sắc mặt hồng hào, uống thuốc này vào mà có tâm trạng như khí
huyết dồn lên đầu thì không nên dùng bài thuốc này.
Thuốc này nhằm vào những người sức khỏe yếu, vị tràng hư
nhược, thiếu máu và dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau. Mạch nhuyễn nhược,
hồng đại, và vô lực hoặc mảnh mà dồn dập, bụng rão, mềm yếu mất trương
lực. Trong dạ dày bị ứ nước, ǎn uống không ngon miệng, toàn thân sức khỏe
bị suy nhược. Nếu có 5 chứng như cổ nhân nói: thiếu máu, mặt nhợt nhạt,
tiếng nói bột bạt, chân tay rã rời, mạch yếu thì dùng bài Tứ quân tử thang.
Thuốc này dùng cho nhiều bệnh khác nhau, dùng trong trường hợp toàn thân suy
nhược nặng, nhất là những người do vị tràng hư nhược mà hoàn toàn không
muốn ǎn uống, hoặc nôn mửa mà ǎn không được, cả mạch lẫn bụng đều hư
nhược. Khí hư có nghĩa là nguyên khí hư nhược, và cũng có nghĩa là vị
khí bị suy nhược vô lực.
Thuốc
dùng cho những người gầy, sắc mặt kém, chức nǎng tiêu hóa của vị tràng bị suy
yếu. Cơ bụng yếu và trong bụng có tiếng nước óc ách. Sau khi ǎn, chân tay mỏi.