Thành phần và phân lượng: Quế chi 3-4g, Sinh khương
3-4g, Đại táo 3-4g, Thược dược 6g, Cam thảo 2-3g, Mạch nha 20g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Bỏ tất cả các vị (trừ Mạch nha) vào sắc, sau đó bỏ bã rồi
cho Mạch nha vào sắc tiếp trong vòng 5 phút.
Công dụng: Dùng để trị các chứng thể chất hư nhược
ở trẻ em, mệt mỏi rã rời, chứng thần kinh dễ bị kích thích, viêm ruột mạn
tính, trẻ con đái dầm, khóc đêm ở những người thể chất hư nhược, dễ mệt
mỏi, huyết sắc kém kèm theo một trong các triệu chứng: đau họng, tim đập
mạnh, chân tay lúc nóng lúc lạnh, đái rắt hoặc đái nhiều.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược:
Có thể nói đây là một bài thuốc bổ cho những người có thể chất hư
nhược, nhất là dùng để cải thiện thể chất hư nhược cho trẻ con.
Bài thuốc này là bài Quế chi gia thược dược thang có thêm
Mạch nha, với tác dụng bổ dưỡng và làm dịu những cơn đau kịch phát của
Mạch nha, cho nên bài thuốc này được ứng dụng rộng rãi hơn là việc dùng
để trị chứng kiết lị và đau bụng của bài Quế chi gia Thược dược thang.
Lưu ý: Bài thuốc này không được dùng cho những
người bị nôn mửa và những người bị viêm cấp tính.
Theo các tài liệu tham khảo như Kim quỹ yếu lược, Chẩn
trị y điển, v.v...: Bệnh thương hàn, mạch dương sáp, mạch lâm huyền se
ợcó chứng bụng thường đau thắt, trước hết hãy dùng Tiểu kiến trung thang,
nếu không khỏi thì dùng Tiểu sài hồ thang làm chủ. Bệnh thương hàn qua hai
ba ngày sau, người rất phiền muộn vì tim đập mạnh mà phiền, dùng Tiểu kiến
trung thang làm chủ.
Thuốc dùng cho những người hư lao, biểu cấp, tim đập mạnh,
bụng đau, mộng tinh, chân tay đau, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, họng hô,
miệng khát. Nam giới da vàng vọt, tiểu tiện bất lợi thì thường dùng Tiểu
kiến trung thang. Phụ nữ đau bụng cũng nên dùng Tiểu kiến trung thang.
Thuốc dùng cho những người thường ngày cơ thể hư nhược,
dễ mệt mỏi, hoặc những người bình thường khỏe mạnh, nhưng hoạt động quá
sức, người quá mệt mỏi. Những chứng bệnh chủ yếu mà bài thuốc này trị là
người mệt mỏi rã rời, bụng đau. Bài thuốc cũng được dùng khi nhịp tim
tǎng vọt, đổ mồ hôi trộm, đổ máu cam, mộng tinh, bàn chân bàn tay nóng khó
chịu, tứ chi có cảm giác mệt mỏi đau nhức, miệng khô, tiểu tiện bất lợi.
Phạm vi ứng dụng của bài thuốc khá rộng rãi, phần nhiều là được dùng cho
trẻ còn bú, cải thiện thể chất của những đứa trẻ gầy yếu, trị chứng đái
đêm, khóc đêm, viêm dạ dày, cảm mạo ở trẻ em, lên sởi, viêm phổi và đau
bụng kịch phát. Thuốc cũng có hiệu nghiệm đối với bệnh viêm phúc mạc mạn
tính dạng nhẹ, lao phổi dạng nhẹ, viêm xương, viêm khớp, chứng thần kinh,
thoát vị ở trẻ sơ sinh, xuyễn, chàm tím, viêm kết mạc, xuất huyết đáy mắt.