Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 1-2g, Hoàng cầm
1-1,5g, Hoàng liên 1-1,5g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Dùng 120ml nước sắc cô lấy 40 ml uống trong 1 lần.
Trong trường hợp bào tễ thì cho vào đó 100 ml nước sôi đun
sôi trong 3 phút, bỏ bã, uống trong 1 lần.
Trong trường hợp dùng vải bọc để sắc thì cho vào 100 ml
nước sôi đun sôi trong 3 phút, bỏ bã, uống trong 1 lần. Khi bị thổ huyết,
đổ máu cam, và các chứng xuất huyết khác (xuất huyết do trĩ, đái ra máu,
xuất huyết dưới da) thì dùng vải bọc để sắc lấy nước, để nguội rồi mới
uống. Bài này không được dùng cho những người bị xuất huyết kéo dài,
thiếu máu rõ rệt và những người mạch vi nhược.
Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng đi liền với
tǎng huyết áp (chóng mặt, đau tê vai, ù tai, nặng đầu, mất ngủ, bồn chồn
bất an), đổ máu cam, xuất huyết do trĩ, bí đại tiện, các chứng của thời kỳ
mãn kinh, các chứng bệnh về huyết ở những người thể lực tương đối khá,
hay bị chóng mặt, mặt đỏ từng cơn, tinh thần bất an và có chiều hướng bị
bí đại tiện.
Giải
thích:
Theo sách Kim quỹ yếu lược: Đây là bài thuốc gồm có
ba vị có chữ hoàng và dùng để hạ tâm nhiệt cho nên người ta gọi là Tam
hoàng tả tâm thang. Bài thuốc này cũng còn được gọi là Tả tâm thang.
Sách Phương cực ghi bài thuốc này dùng để "trị
tình trạng tinh thần bất an, vùng thượng vị bị đầy tức, nhưng nếu ấn vào
bụng thì thấy mềm". Sách Y thánh phương cách ghi "những người
bị thổ huyết, đổ máu cam và các dạng xuất huyết khác mà phần bụng dưới
bị đầy tức, người bứt rứt khó chịu, nhiệt phiền, phân khô, những người
bị nặng thì lưỡi rộp vàng, mặt và mắt đỏ. Những người như vậy phải dùng
Tả tâm thang". Cần phải nói rằng hai bài thuốc này dùng chủ yếu cho
những người máu dồn lên mặt, mặt đỏ từng cơn, tâm trạng bất an, bí đại
tiện và mạch cǎng, ... Thuốc được dùng khi bị sung huyết não, xuất huyết
não, khạc ra máu, thổ huyết, đổ máu cam, xuất huyết tử cung, xuất huyết do
trĩ; khi bị hoảng hốt và lo lắng vì chảy máu ngoại thương thì uống thuốc
này liền một lần sẽ có tác dụng làm cho tinh thần trấn tĩnh và cầm được
máu. Tuy nhiên, đối với những người ra máu kéo dài, thiếu máu rõ rệt và
mạch vi nhược thì không nên dùng bài thuốc này. Ngoài những biểu hiện nói
ở trên, bài thuốc này cũng còn được dùng trong các trường hợp tǎng huyết
áp, chứng thần kinh, mất ngủ, loét dạ dày, viêm dạ dày, bệnh về huyết đạo,
các chứng của thời kỳ mãn kinh, bệnh da, bệnh mắt, động kinh, bệnh tinh thần,
bỏng, v.v...