Thành phần và phân lượng: Dầu vừng 1000g, Mật lạp
(Sáp ong) 300-400g, Mỡ lợn 20-30g, Đương quy 60-100g, Tử cǎn 100-120g.
Cách dùng và lượng dùng: Dùng ngoài.
Trước hết cho dầu vừng đun sôi rồi cho mật lạp (sáp ong),
mỡ lợn đun cho tan đều, sau đó cho Đương quy vào. Đến độ Đương quy nổi
màu, cho Tử cǎn đun sôi 2-3 lần, cho đến khi màu tía tươi nổi lên thì nhanh
chóng hạ lửa, dùng vải để lọc thuốc có màu tía tươi là thuốc tốt. Nhiệt
độ khi cho Tử cǎn vào đạt khoảng 140( là tốt. Mật lạp cho nhiều vào mùa
hè, mùa đông giảm đi.
Công dụng: Dùng để bôi nẻ, nứt, cước, chai, rôm
sẩy, loét, ngoại thương, bỏng, đau do trĩ ngoại, rách hậu môn, viêm da do dị
ứng thuốc.
Giải thích:
Phần "Ngoại khoa chính tông" trong cuốn Các bài
thuốc gia truyền của Hanaoka Seishu thuốc còn có tên là Nhuận cơ cao.
Bảng
Tên thuốc sống
Tên tài liệu tham
khảo
Dầu vừng
Mật lạp
Mỡ lợn
Đương quy
Tử cǎn
Kim sáng sao dược chư phương (1)
40 tiền
15 tiền
1 tiền
5 tiền
4 tiền
Giải thích các bài thuốc (2)
1000
380
25
100
100
Chất liệu y điển (3)
1000
380
25
100
100
Thực tế trị liệu (4)
1000
380
25
100
100
Thực tế ứng dụng (5)
1000
380
25
100
100
Thuốc đông y (6)
1000
380
25
100
100
Tập các bài thuốc (7)
1000
380
25
100
100
Bách khoa về thuốc dân gian (8)
1 lít
380
25
100
100
Các bài thuốc đơn giản (9)
1000
300-400
30
80
120
Nhập môn thuốc đông y (10)
1000
300-400
30
80
120
Dược cục phương thứ 7 (11)
1000
300-400
30
60
120
Dược cục phương thứ 3 (13)
1000
300-400
20
60
120
Tập phân lượng các vị thuốc
1000
300-400
25
100
100
Thuốc dùng khi bị khô, ráp da, lở loét và những tình trạng
da dị thường dạng tǎng thực, nhưng thuốc không chỉ dùng cho những người bị
khô da, còn làm nhuận và chữa da, làm ngang bằng thịt chỗ bị lồi lõm hoặc
bôi lên chỗ da bị biến mầu.
Thuốc rất có hiệu quả đối với bệnh eczêma, ghẻ khô, ghẻ,
chai chân, mụn nhọt, trứng cá, phỏng nước, mụn cóc, nứt nẻ da, viêm da do dị
ứng thuốc, bỏng, viêm lỗ chân lông, bệnh favus, các loại ngoại thương (xây
xước, rách da, bầm tím da), cước, mảng mục (do nằm lâu một phía), bỏng, lở
loét, lở chân trĩ, trĩ lậu, lòi rom, và những bệnh dưới da.
Theo các tài liệu tham khảo như Thực tế ứng dụng, Thực tế
trị liệu, v.v...: Nếu dùng để rịt những vết ngoại thương thì thuốc có tác
dụng cầm máu, giảm đau, đối với những vết thương tổn da thì thuốc có tác
dụng làm cho lành da nhanh (lên da non). Nếu dùng để chữa các vết xây xát
thì thuốc làm cho da nhanh chóng hồi phục. Nếu dùng để chữa vết bỏng thì
lập tức hết đau, nếu vết bỏng không nặng thì nó không để lại môt tí vết
sẹo nào. Nhưng, khi dùng thuốc để chữa bỏng, điều quan trọng là phải rịt
thuốc đủ rộng để trùm hết chỗ bị thương tổn. Khi dùng để chữa trĩ và
lòi rom thì phải rửa sạch vết thương rồi mới bôi thuốc.
Thuốc dùng để chữa ngoại thương, nứt nẻ da, cước, bỏng,
loét da, eczema, rôm sảy, trĩ ngoại, xuất huyết trĩ, lòi rom, rách hậu môn,
lở loét, khô ráp da mặt.
Thuốc dùng để trị hư chứng, các loại bệnh da ngoại thương
mang tính chất thiếu máu và khô, ngoài ra, thuốc cũng còn có tác dụng chống
thối thịt, kích thích lên da non, v.v...
Thuốc nhằm chữa cho các vết thương chưa thành mủ, chất bài
tiết ra không nhiều, vết thương không sâu. Thuốc cũng còn được ứng dụng
để chữa cho những người phụ nữ da khô ráp (cách điều trị cơ bản là phải
uống thuốc trừ ứ huyết).