Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 2-4g, Chỉ thực
2-4g, Hậu phác 2-3g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Trị bí đại tiện.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược:
(a) Phân lượng của các vị là 4 lạng Đại hoàng, 3 quả Chỉ
thực và 2 lạng Hậu phác;
(b) Thừa khí có nghĩa là thuận khí, tức là làm cho khí lưu
thông tốt hơn, nhờ đó trị được chứng đầy bụng và bí đại tiện. Hậu
phác, Chỉ thực có tác dụng trị cǎng chướng bụng, Đại hoàng có tác dụng
tiêu viêm và làm thông đại tiện;
(c) Đây là bài thuốc dùng cho những bệnh nhân bị thực
chứng, song đó là bài thuốc dùng cho những người có thể lực khá, vùng xung
quanh rốn và bụng nhìn chung là đầy trướng, có lực đàn hồi, mạch khỏe và
bí đại tiện.
Những chú ý khi sử dụng:
(a) Bài thuốc này cấm dùng cho những người mặc dù bị bí
đại tiện nhưng mạch lại yếu, chẳúng hạn bụng tuy đầy trướng nhưng không
được dùng khi bụng bị cổ trướng và viêm phúc mạc;
(b) Đây là bài Đại thừa khí thang bỏ Mang tiêu, được dùng
cho những người bệnh trạng nhẹ hơn trong bài Đại thừa khí thang.
Theo Chẩn liệu y điển: Bài thuốc này được dùng nhiều
khi bệnh viêm phổi cấp tính và sốt phát ban đang tiến triển, ngoài ra còn
được dùng để trị chứng béo phì, tǎng huyết áp, táo bón thường xuyên,
ngộ độc thức ǎn v.v...
Theo Thực tế ứng dụng: Bài thuốc này dùng để tháo
dần dần những thứ ứ trệ trong dạ dày, nhưng trên thực tế, thuốc còn có
thác dụng tháo những thứ ứ trệ trong ruột chứ không chỉ trong dạ dày. Thuốc
cũng còn được dùng trị chứng tǎng huyết áp, phát phì, bí đại tiên, ngộ
độc thức ǎn, viêm phổi cấp tính và các bệnh nhiệt khác.