Thành phần và phân lượng: Sài hồ 4-7g, Bán hạ 4-5g,
Sinh khương 4g, Hoàng cầm 3g, Đại táo 2-3g, Nhân sâm 2-3g, Cam thảo 2g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Thuốc dùng trong các trường hợp bị buồn
nôn, ǎn uống không ngon miệng, viêm dạ dày, hư nhược vị tràng, cảm thấy
mệt mỏi và các chứng của giai đoạn sau của cảm cúm.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược:
Bài thuốc này còn có tên là Sankinto (Tam cấm thang).
Đây là bài thuốc tiêu biểu của các bệnh nhiệt ngực và
cũng là bài thuốc cơ bản trong các bài thuốc Sài hồ. Thuốc này được dùng
cho những người có cảm giác tức tối khó chịu từ vùng lõm thượng vị cho
tới mạng sườn như là nén vào xương sườn, lưỡi có rêu trắng, miệng
đắng, dẻo, bụng đầy cứng, buồn nôn, người lúc nóng lúc lạnh, phần nhiều
những người mắc các chứng của bài thuốc này thường hay kiêng khem. Đây là
bài thuốc cải thiện thể chất và được ứng dụng rộng. Bài thuốc này có tên
là Tam cấm thang là do xuất phát từ "bệnh trạng phải cấm 3 thứ: hãn,
thổ, hạ".
Sách Phương hàm loại tụ ghi: "bài thuốc này nhằm
vào những người đầy tức ngực sườn, người lúc nóng lúc lạnh, ǎn uống kém
ngon, nôn, ù tai".
Theo các tài liệu tham khảo: Bài thuốc này dùng khi biểu tà
đã tiêu tan, bệnh đã tiến vào phần thiếu dương, tức là ở khoảng bán biểu
bán lý, thể hiện dưới dạng đầy tức ở ngực sườn. Phần thiếu dương nằm ở
xung quanh màng hoành cách, chỗ phế quản, màng sườn, phúc mạc, gan và mật,
dạ dày. Ngực sườn đầy tức là vì khu vực xung quanh rẻ cuối cùng xương
sườn, ở các phần da, cơ và các tổ chức dưới da của sườn bị viêm và bị
cǎn dị thường gây ra, người cảm thấy đầy tức khóc chịu như có cái gì
chèn đầy ngực, nếu ấn tay vào vùng cánh cung của xương sườn thì thấy chối
và đau nhói. Hiện tượng này là do sự sưng tấy thành các cục rắn ở các vị
trí nói tên vì nhiệt bên trong gây ra, ngay tuyến bạch mạch thành ngực cũng
sinh ra hiện tượng sưng tấy thành các cục rắn này. Ngoài ra, mạch trầm và
huỳên, ǎn uống không thậy ngon miệng, miệng đắng, lưỡi có rêu trắng, nôn
mưả, người lúc nóng lúc lạnh, tim đập mạnh, cổ cứng, tai ù. Và theo
đường kinh lạc của Can và Đởm, cái đau kéo từ cổ xuống tới tận hạ bộ.
Bài thuốc này cũng có thể dùng khi không nhất thiết là có sốt rét và nôn
mửa, và cũng có thể dùng khi chứng đầy tức ở vùng mạng sườn không thể
hiện rõ rệt lắm.