Thành phần và phân lượng: Sài hồ 2,0g, Đương quy
1,5g, Thược dược 1,5g, Xuyên khung 1,5g, Địa hoàng 1,5g, Hoàng liên 1,5g, Hoàng
cầm 1,5g, Hoàng bá 1,5g, Sơn chi tử 1,5g, Liên kiều 1,5g, Cát cánh 1,5g, Ngưu
bàng tử 1,5g, Qua lâu cǎn 1,5g, Bạc hà diệp 1,5g, Cam thảo 1,5g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Dùng cho các chứng thần kinh, viêm amiđan
mạn tính, eczema ở những trẻ nhỏ có chiều hướng cứng.
Giải thích:
Theo Nhất quán đường phương: Đây là bài kết hợp Tứ
vật thang (trong Hòa tễ cục phương) và Hoàng liên giải độc thang (trong
Vạn bệnh hồi xuân), tức là thêm vào Ôn thanh ẩm các vị Cát cánh, Bạc
hà diệp, Ngưu bàng tử, Qua lâu cǎn.
Ôn thanh ẩm là bài thuốc duỡng để giải nhiệt ứ, làm nhuận
huyết, làm cho gan hoạt động tốt. Cát cánh có tác dụng giải nhiệt ở đầu
và mắt, họng, hoành cách, Ngưu bàng tử có tác dụng nhuận phổi, giải nhiệt,
lợi họng, giải độc phát ban trên da, Qua lâu cǎn có tác dụng tạo ra tân
dịch, làm hạ hỏa, nhuận táo (làm cho cơ thể khỏi khô háo), tiêu nước phù
thũng, loại trừ mủ.
Cũng có những bài thuốc cùng tên nhưng khác vị sau:
Bảng 3
Tên thuốc sống
Tên
bài thuốc
Sài hổ
Hoàng cầm
Địa hoàng
Hoàng liên
Đương quy
Mộu đơn bì
Chi tử
Xuyên khung
Thǎng ma
Cam thảo
Nhân sâm
Liên kiều
Cát cánh
Sài hồ thanh can tán
3
3
3
2
2
2
2
2
1,5
1,5
Sài hổ thanh can thang
4
3
3
3
1
3
2
2
Bài thuốc tán được ghi trong Thọ thế bảo nguyên, bài
thuốc thang ở trong Ngoại khoa khu yếu.
Theo các tài liệu tham khảo như Chẩn liệu y điển, Cơ sở
chẩn liệu, Phân lượng các vị thuốc: Đây là bài thuốc dùng để cải
tiến thể chất hư nhược dễ bị phù bạch mạch cổ, sưng amiđan và sùi vòm
họng ở những đứa trẻ có thểứ chất dễ mắc các bệnh của tuyến. Thuốc này
cũng có thể chuyển sang dùng cho những trẻ bị cam nặng và chứng thần kinh mà
sinh ra chứng mất ngủ, khóc đêm, kém ǎn. Thuốc có thể ứng dụng để trị các
chứng bệnh về tuyến, viêm bạch hạch rốn phổi, sùi vòm họng, phình to amiđan,
tràng nhạc, bệnh da.