Thành phần và phân lượng: Sài hồ 4-5g, Bán hạ 4g,
Phục linh 2-3g, Quế chi 2-3g, Đại táo 2-2,5g; Nhân sâm 2-2,5g, Long cốt 2-2,5g,
Mộu lệ 2-2,5g, Sinh khương 2-3g, Đại hoàng 1g, Hoàng cầm 2,5g, Cam thảo 2g
(Hoàng cầm và Cam thảo không có cũng được).
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Sắc với 500ml nước, lấy 300ml bỏ bã, đun lại còn 200ml, chia
uống làm 3 lần khi thuốc còn ấm.
Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng đi liền với
tǎng huyết áp (tim đập mạnh, bồn chồn, mất ngủ), các chứng về thần kinh,
các chứng thần kinh thời kỳ mãn kinh, trẻ em khóc đêm kèm theo tình trạng
tinh thần bất an, tim đập nhanh, mất ngủ, v.v...
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận.
(1): Thuốc dùng cho những người có triệu chứng ở bụng giống
với những triệu chứng trong bài Tiểu sài hồ thang, ngoài ra, vùng hoành cách
đầy tức khó chịu, có cảm giác bụng trên bị đầy, phần bụng và đặc biệt
là vùng xung quanh rốn có tiếng đập máy động. Về bệnh trạng thì đó là
thần kinh quá mẫn cảm, hưng phấn, tim đập mạnh, tức thở, mất ngủ và nhiều
khi gây ra tình trạng rối loạn tinh thần.
(2): Bài thuốc này được ứng dụng trong các bệnh về nhiệt
lao phổi, viêm màng phổi, viêm phúc mạc, các bệnh thần kinh, huyết đạo, mất
ngủ, các bệnh tinh thần, động kinh, tǎng huyết áp, tim đập mạnh bột phát,
cước khí, các chứng bệnh về van tim, suy tim, hẹp van tim, nhồi máu cơ tim,
v.v...
Theo các tài liệu tham khảo: Đây là thuốc cải thiện thể
chất hư nhược, có hiệu nghiệm với những người thể chất gầy yếu hơn ở bài
Sài hồ Quế chi thang, người kém ǎn, từ vùng thượng vị đến ngực bị đầy
tức khó chịu, đau, bị chứng máu dồn lên mặt, miệng và lưỡi khô, lượng
tiểu tiện ít, đổ mồ hôi đều hoặc ra mồ hôi trộm, bụng có những tiếng
đập máy động, người lúc nóng lúc lạnh, các chứng thần kinh. Ngoài việc
ứng dụng trị các chứng của thời kỳ mãn kinh, bài thuốc này còn được ứng
dụng để chữa cảm mạo, viêm túi mật, dạ dày quá nhiều toan, loét dạ dày,
chứng mày đay, xuyễn, tràng nhạc, viêm màng phổi, viêm thận cấp tính, hư
thận, v.v...
Thuốc có hiệu nghiệm đối với những người khó ngủ, mơ màng
liên miên và hoảng hốt trong giấc mơ. Thuốc còn được dùng cho những người
bị lao phổi, tim đập mạnh, tức thở, xuyễn, trong đờm có lẫn máu. Thuốc
không dùng trong trường hợp ho ra nhiều máu. Điều đáùng chú ý ở đây là
vị Qua lâu cǎn trong bài thuốc này, Qua lâu cǎn là rễ củ của Hoàng Ô qua,
nhưng đôi khi người ta bán Thổ qua cǎn mà bảo là Qua lâu cǎn. Thổ qua cǎn
có vị hơi đắng, nếu cho vào bài thuốc này sẽ khiến cho buồn nôn lợm giọng
và nôn mửa.