Thành phần và phân lượng: Phục linh 5g, Truật 4g, Nhân
sâm 3g, Sinh khương 3-4g, Trần bì 3g, Chỉ thực 1-2g, Bán hạ 5-6g, Hậu phác 3g,
Tử tô diệp 2g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Cho 6 vị Phục linh, Nhân sâm, Bạch truật, Chỉ thực, Quất bì
và Sinh khương vào sắc với 6 bát nước, lấy 1,8 bát, chia uống làm 3 lần khi
thuốc còn nóng, cách nhau một khoảng thời gian để người đi bộ đi được 5-6
km.
Công dụng: Trị các chứng thần kinh bất an, viêm dạ
dày do thần kinh, chứng lưu ẩm, viêm dạ dày ở những người tâm trạng bức
bối khó chịu, họng và thực quản như có dị vật chẹn lại, đôi khi tim đập
mạnh, chóng mặt, buồn nôn, ợ nóng, lượng tiểu tiện giảm.
Giải thích:
Theo sách Bản triều kinh nghiệm phương:
Phần Trị liệu thủy khí thuộc chương Mạch chứng và trị liệu
chứng đàm ẩm và ho trong sách Kim quỹ yếu lược được truyền đến các
đời sau đã nêu các chứng của bài Phục linh ẩm của sách Ngoại đài bí
phương: "người đờm, nước đọng tích tụ trong ngực, sau khi bị nôn
mửa thì khí tràn đầy các khoảng trống trong ngực khiến cho ngực bị đầy
không thể ǎn uống được".
Trong mục Các bệnh vặt của phụ nữ và trị liệu các bệnh đó
trong chương Phụ nữ tạp bệnh dự trữ liệu, cũng trong cuốn Kim quỹ yếu
lược lại nêu những chứng của bài Bán hạ hậu phác thang và nói rằng:
"Những người phụ nữ cảm thấy như có cục thịt nướng chẹn trong họng
thì dùng bài thuốc này". Phục linh ẩm bán hạ hậu phác thang là bài
thuốc kết hợp hai bài thuốc này.
Theo Chẩn liệu y điển: Thuốc dùng trị các chứng viêm
dạ dày, sa dạ dày, mất trương lực dạ dày, chứng thần kinh, bệnh về đường
kinh nguyệt, hen phế quản, viêm phế quản, ho gà, ốm nghén ở những người vị
tràng yếu, dạ dày bị đầy hơi, bụng đầy trướng và do đó không muốn ǎn.
Theo Tập các bài thuốc đông y: Thuốc dùng cho những
người bị đàm ẩm, suy nhược thần kinh dạ dày, hẹp thực quản do thần kinh,
các chứng của thời kỳ mãn kinh, hysteria, bệnh Basedow, viêm phế quản cấp và
mạn tính, phù thũng thực quản, phù thũng thanh môn, phù bìu