Thành phần và phân lượng: Bán hạ 4-6g, Phục linh 4-6g,
Sinh khương 3g, Can sinh khương 1-2g, Trần bì 2-3g, Trúc nhự 2-3g, Chỉ thực
1-2g, Cam thảo 1-2g, Hoàng liên 1g, Toan táo nhân 3g, Đại táo 2g (cũng có
trường hợp không có Hoàng liên, Toan táo nhân, Đại táo).
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Trị mất ngủ và chứng thần kinh của những
người suy nhược vị tràng.
Giải thích:
Theo sách Tam nhân phương và sách Thiên kim phương:
có thể xem đây là bài Phục linh tán (Phục linh, Truật, Nhân sâm, Sinh
khương, Quất bì, Chỉ thực) bỏ các vị Truật và Nhân sâm, thay vào đó là
thêm Bán hạ, Cam thảo, Trúc nhự. Bỏ Truật để thêm Cam thảo cho thấy là mức
độ ứ nước trong dạ dày nhẹ hơn bài Phục linh ẩm, và sự có mặt của Bán
hạ cho thấy là có nước ở trong thành ngực. Người xưa cho rằng việc ứ đọng
thủy ẩm làm cho đởm lạnh và dẫn tới tinh thần bất an.
Ngay trong việc trị chứng mất ngủ do hư phiền thì thuốc này
cũng nhằm vào việc trị ứ nước chứ không phải nhằm vào chứng thiếu máu
giống như bài Toan táo nhân thang. Bài thuốc này cũng có thể coi là bài Nhị
trần thang có sửa đổi.
Tham khảo:
'
Trong phần giải thích dựa vào Tam nhân phương người ta
gọi bài thuốc có 9 vị thuốc là bài Ôn đảm thang. Trong các sách Tập phân
lượng các vị thuốc, Trǎm mẩu chuyện về đông y, Đông y đại y điển, coi
đây là bài Ôn đảm thang có tǎng vị. Còn trong các sách Thực tế ứng
dụng, Các bài thuốc đơn giản, coi xuất xứ bài thuốc này là ở Thiên kim
phương, bớt đi các vị Hoàng liên, Toan táo nhân và Đại táo.