Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 3g (không được
dùng Nhân sâm đốt tre); Cam thảo 3g, Truật 3g; Can khương 2-3g (Chỉ dùng Can
khương).
Cách dùng và lượng dùng:
1. Tán: Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2-3g.
2. Thang.
Công dụng: Trị các chứng vị tràng hư nhược, mất
trương lực dạ dày, ỉa chảy, nôn mửa, đau dạ dày ở những người chân tay
dễ bị lạnh, lượng tiểu tiện nhiều.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược:
Bài thuốc này còn có tên gọi khác là Lý trung hoàn. Nhân sâm thang là một
bài thuốc cơ bản trong đông y, ứng dụng của nó rất rộng rãi (tham khảo phần
giải thích về bài Hương sa lục quân tử thang). Sách Thương hàn luận
phần Hoắc loạn bệnh - thổ tả viết: "Những người bị bệnh hoắc loạn,
đầu đau, phát nhiệt, người đau, nhiệt nhiều muốn uống nước nhiều là đối
tượng của bài Ngũ linh tán. Những người hàn nhiều, không uống nhiều nước
là đối tượng của Lý trung hoàn".
Trong phần Sai hậu lao dịch bệnh cũng trong sách Thương hàn
luận viết: Thuốc dùng trị các chứng sa dạ dày, mất trương lực dạ dày,
viêm dạ dày, loét dạ dày, chứng tự trúng độc ở trẻ em, ôùm nghén, đau
dây thần kinh liên sườn, thổ tả cấp tính, xuất huyết có tính mất trương
lực ở những người bị chứng lạnh, huyết sắc kém, vị tràng yếu, dễ bị ỉa
chảy, đau bụng hoặc buồn nôn, nước bọt đọng lại trong miệng, hay đi tiểu
và lượng nhiều.
"Lý trung" trong sách Thương hàn luận có nghĩa
là thuốc có tác dụng trị chứng suy nhược chức nǎng của trung tiêu (vị
tràng). Bài thuốc này nâng cao chức nǎng của dạ dày, loại trừ sự mỏi mệt
của dạ dày, làm huyết lưu thông tốt và thúc đẩy quá trình trao đổi chất.
Thuốc dùng cho những người ǎn uống không ngon miệng mặc dầu nhai rất kỹ
nhưng vừa ǎn vào đã thấy đầy bụng không muốn ǎn nữa, tức ngực do trục
trặc của bộ máy tiêu hóa, hoặc do bộ máy tiêu hóa trục trặc dẫn tới chứng
lạnh, những người bị bạch đới do chứng lạnh, những người hay đi đái mà
lượng tiểu tiện lại nhiều, những người bị chứng múa giật.