Thành phần và phân lượng: Phục linh 2,0g, Truật 3-4g,
Xuyên khung 1-2g, Hậu phác 1-2g, Bạch chỉ 1-2g, Chỉ xác (hoặc Chỉ thực) 1-2g,
Cát cánh 1-2g, Can sinh khương 1-2g, Quế chi 1-2g, Ma hoàng 1-2g, Đại táo 1-2g,
Cam thảo 1-2g, Hương phụ tử 1,2g (không có Hương phụ tử cũng được).
Cách dùng và lượng dùng: (về nguyên tắc là thang).
Cách cấu thành bài thuốc và cách bào chế các vị thuốc của
bài Ngũ tích tán ghi trong Hòa tễ cục phương như sau:
Bài thuốc này chỉ dùng 12 vị: 14 lạng Thương truật (dùng
nước gạo rửa và cạo vỏ), 12 lạng Cát cánh (bỏ vỏ), 6 lạng Ma hoàng (bỏ
rễ), Chỉ xác (bỏ củ, chặt ra thành từng đoạn rồi sao), Trần bì (bỏ phần
tinh trắng), (Hậu phác bỏ vỏ thô bên ngoài) mỗi thứ này 3 lạng, 3 phân Bán
hạ (rửa 7 lần), Cam thảo 3 phân (sau khi sao rồi mới chặt thành từng đoạn),
Bạch chỉ 3 phân, Bạch thược 3 phân, Xuyên khung 3 phân, Nhục quế 3 phân (cạo
bỏ vỏ thô bên ngoài).
Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng sau đã trở
thành mạn tính và bệnh trạng không nghiêm trọng: vị tràng, đau lưng, đau
thần kinh, đau khớp, đau khi có kinh, đau đầu, bị chứng lạnh, chứng của thời
kỳ mãn kinh, cảm mạo.
Giải thích:
Theo sách Hòa tễ cục phương: Tên của bài thuốc được
đặt như vậy với ý nghĩa để trị 5 thứ tích: khí, huyết, đàm, hàn, thực
(chỉ 5 thứ độc tích tụ trong cơ thể con người).
Thuốc được dùng trị các chứng ở những người về thể chất
tì hư nhược do hàn ôn sinh ra. Trong bài thuốc này, Thương truật, Trần bì,
Hậu phác và Cam thảo, tức là bài Bình vị tán có tác dụng làm tiêu tán sự
ứ đọng thức ǎn thức uống, Bán hạ, Phục linh, Trần bì, Cam thảo, tức là bài
Nhị trần thang, cùng với Chỉ xác loại trừ nước ứ trong dạ dày và đàm ẩm,
Đương quy, Thược dược, Xuyên khung, tức là bài Tứ vật thang bỏ Địa hoàng
có tác dụng hành huyết, bổ máu; Can khương, Ma hoàng, Bạch chỉ, Cát cánh có
tác dụng làm ấm cái hàn, làm tiêu tán phong tà và làm khí huyết lưu thông.
Cấu tạo của bài thuốc khá phức tạp dùng để thay thế chức
nǎng của nhiều bài thuốc hợp thành như bài Nhị trần thang, Bình vị tán, Tứ
vật thang, Quế chi thang, Tục mệnh thang, Bán hạ hậu phác thang, dùng để trị
các chứng bệnh sinh ra do 5 thứ tích nói trên.
Theo Chẩn liệu y điển: Thuốc dùng trị các chứng do hàn
lạnh và khí ẩm sinh ra, những người thiếu máu, nửa thân trên thì nhiệt, còn
lưng, đùi, bụng dưới và nửa thân dưới bị lạnh.
Thuốc được dùng trong các trường hợp viêm dạ dày, ruột,
đau eo lưng, đau thần kinh, sưng khớp, kinh nguyệt khó khǎn, bạch đới, cước
khí, bầm tím, chứng lạnh, sán khí (sa đì), đau khi có kinh nguyệt, các chứng
về van tim, trúng phong, cảm mạo nhẹ ở người già.