Thành phần và phân lượng: Ma hoàng 4-5g, Hạnh nhân
4-5g, Quế chi 3-4g, Cam thảo 1,5-2g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Sắc Ma hoàng với 360 cc nước lấy 260 cc, hớt bỏ bọt ở trên
rồi cho các vị thuốc khác vào sắc tiếp lấy 100 cc, chia uống làm 3 lần.
Ma hoàng, nếu bỏ đốt thì lấy 3g.
Công dụng: Trị cảm mạo, ngạt mũi trong giai đoạn đầu
bị phong tà có sốt, đau đầu, đau các khớp trong người.
Chú ý: Những người thân thể hư nhược không được
dùng thuốc này.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận: Đây là bài thuốc trị thực
chứng biểu nhiệt của thái dương bệnh. (1). Thuốc dùng cho những người ngày
thường có thể chất khoẻ mạnh, chắc chắn và thể lực khá. Bệnh trạng là
thực chứng, cho nên đó là những người có bệnh trạng nặng, kèm theo các
triệu chứng phát sốt, ớn lạnh, nặng, đau đầu dữ, ho dữ, người rất đau.
Các bệnh trạng này do thủy độc ở thể biểu gây ra, do đó, Ma hoàng thang là
bài thuốc giải thủy độc ở thể biểu. Khác với Quế chi thang, bệnh nhân của
bài thuốc này không đổ mồ hôi và giống với bài Cát cǎn thang ở chỗ mồ
hôi không tự ra. Trường hợp thủy độc ở thể biểu trở thành mạn tính,
lượng tiểu tiện giảm, phù thũng, nếu dùng bàit huốc này thì thêm 5g Truật
gọi là Ma hoàng gia truật thang.
Sách Phương hàm loại tụ viết: "Thuốc này trị
chứng thương hàn không có mồ hôi, xuyễn, hoặc những người hen bị cảm hàn.
Ma hoàng thang (Thiên kim) gồm các vị: Ma hoàng, Độc hoạt, Xạ cam, Quế chi, Cam
thảo, Mộc hương, Thạch cao, Hoàng cầm. 8 vị này trị đơn thũng cùng phong
độc và phong chẩn ở trẻ em, thuốc cũng có công hiệu đối với những người
bị phong chẩn, mề đay, sởi, phát sốt cao, bài tiết không được.Trẻ bị chứng
viêm quầng (đơn độc) thì dùng thuốc này cùng với sài viên".
Theo Chẩn liệu y điển: Trước hết sắc Ma hoàng với 600
cc nước lấy 500 cc, hớt bọt trên rồi cho các vị thuốc khác vào sắc tiếp lấy
250 cc, bỏ bã, chia uống làm 3 lần khi thuốc còn nóng.
Đối tượng của bài thuốc là những người bị ớn lạnh, phát
sốt, mạch phù khẩn, không ra mồ hôi và các chứng kèm theo với phát sốt như
đau các khớp, đau vùng thắt lưng, ho xuyễn, v.v... Những bệnh trạng này
thường thấy trong thời kỳ đầu phát bệnh cảm mạo, cảm cúm và các bệnh
nhiệt khác. Bài thuốc này có tác dụng cho ra mồ hôi và lợi tiểu, có người
uống thuốc này vào ra mồ hôi và các chứng bệnh thấy giảm, người thoải mái,
và cũng có người uống vào đi giải nhiều và bệnh giảm đi.
Theo Giải thích các bài thuốc: Đối tượng đầu tiên
của bài thuốc này là những người khi bị bệnh nhiệt đau đầu, đau người,
đau vùng thắt lưng, các khớp và ghê gió, v.v..., nhưng không ra mồ hôi.
Những bệnh nhân đó, khi không sốt thì mạch cũng vẫn phù khẩn, có người bị
ho và đổ máu cam.
Sách Vật ngộ phương hàm khẩu quyết viết: "Bài
thuốc này dùng trị chứng thái dương thương hàn, không đổ mồ hôi. Những
người bị cảm lạnh cảm phong sinh ra ho dùng thuốc này sẽ khỏi rất nhanh
chóng. Asakawa suốt một đời dùng bài thuốc này để phòng xuyễn". Sách Cổ
phương dược nang viết: "Thuốc này dùng cho những người phát sốt,
đau đầu, cổ, vai, lưng và vùng thắt lưng rất đau, hơi thở nóng, ho, tắc
mũi hoặc đau họng hay nghe có tiếng thở khò khè, rét chứ không đổ mồ hôi,
khí lực kém, mạch trầm. Những người bất kể có sốt hay không nhưng không có
mồ hôi cũng nên dùng bài thuốc này".