Thành phần và phân lượng: Đương quy 5g, Địa hoàng
5g, Mộc thông 5g, Hoàng cầm 3g, Trạch tả 3g, Xa tiền tử 3g, Long đảm 1-1,5g,
Sơn chi tử 1-1,5g, Cam thảo 1-1,5g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Trị các chứng đái buốt, cảm giác đái
không hết, nước tiểu đục, bạch đới ở những người thể lực tương đối
khá, cơ bụng dưới có chiều hướng bị cǎng.
Giải thích:
Theo Tiết thị lục thập chủng: Bài thuốc này trị chứng
viêm bàng quang và niệu đạo, là các loại bệnh thuộc thực chứng, thuốc
được dùng chữa viêm niệu đạo dạng lậu cấp hoặc bán cấp, viêm bàng quang,
dẫn tới đái buốt, hoặc bạch đới ở phụ nữ. Thuốc cũng dùng cho những
người đái ra mủ, vùng hạ bộ bị sưng và đau, tuyến háng bị sưng. Nói
chung, đối tượng của bài thuốc này là những người thể lực chưa bị suy
yếu, cả mạch lẫn bụng đều tương đối khỏe.
Theo Chẩn liệu y điển: Bài thuốc này còn dùng điều
trị viêm màng trong tử cung (bạch đới), viêm tinh hoàn, sưng bạch hạch,
eczêma vùng hạ bộ, hôi nách, chứng vô sinh và hạ cam dạng nhuyễn do lậu mạn
tính gây ra.
Theo Thực tế trị liệu: Ngoài tác dụng lợi tiểu, bài
thuốc còn được dùng để tiêu viêm, giải nhiệt, trấn tĩnh.
Theo Giải thích các bài thuốc: Bài thuốc còn dùng
điều trị trichomonas, biến chứng của xơ gan.
Tham khảo:
Bài Long đảm tả can thang ghi trong Hòa tễ cục phương
gồm có 10 vị: Long đảm thảo, Sài hồ, Trạch tả mỗi vị một tiền, Xa tiền,
Mộc thông, Sinh địa hoàng, Đương quy vĩ, Chi tử, Hoàng cầm, Cam thảo mỗi vị
5 phân. Nghiền thành bột rồi cho vào 3 bát nước để sắc lấy 1 bát, uống
nóng trong bữa ǎn.