Thành phần và phân lượng: Thương truật 2,5-3g, Hậu
phác 2,5-3g, Trần bì 2,5-3g, Trư linh 2,5-3g, Trạch tả 2,5-3g, Thược dược
2,5-3g, Bạch truật 2,5-3g, Phục linh 2,5-3g, Quế chi 2-2,5g, Đại táo 1,5-3g, Can
sinh khương 0,5-2g, Cam thảo 1-2g, Súc sa 2g, Hoàng liên 2g (có thể không dùng
Thược dược, Súc sa, Hoàng liên).
Cách dùng và lượng dùng:
1. Tán: Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1,5-2g.
2. Thang.
Công dụng: Trị đi ngoài, nôn mửa, trúng độc thức ǎn
không tiêu, bị trúng thử, ra khí, nước, đau bụng do lạnh, viêm ruột, dạ dày
cấp tính, đau bụng kèm theo miệng khát và lượng tiểu tiện ít.
Giải thích:
Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Đây là bài thuốc kết
hợp bài Ngũ linh tán và Bình vị tán dùng để trị cho những người vốn dĩ
khả nǎng thải nước kém, do bụng bị tổn thương cho nên kém hấp thu nước,
thức ǎn vào không tiêu hóa được, tháo ra như nước, người có những triệu
chứng miệng khát, trong dạ dày óc ách nước và bụng cǎng tức, lượng nước
tiểu ít.
Sách Phương hàm loại tụ viết: Thuốc gồm 8 vị Hậu
phác, Quất bì, Cam thảo, Thương truật, Trư linh, Trạch tả, Phục linh và Quế
chi dùng để trị cho những người bị ngộ độc thức ǎn hoặc không tiêu hoá
nổi thức ǎn mà đi tả, hoặc những người tỳ vị bất an mà đi tả. Gia vị linh
thang gồm 11 vị: Thương truật, Trư linh, Phục linh, Trạch tả, Hậu phác, Quất
bì, Tô diệp thảo, Mộc hương, Bạch truật, Sinh khương, trị rất công hiệu
tất cả những bệnh với liều lượng tùy theo chứng bệnh, trị những người đi
tả do thức ǎn không tiêu. Thuốc còn được dùng sau khi thương hàn và đặc
biệt công hiệu đối với bị gió sau khi đi tả.