Thành phần và phân lượng: Phục linh 6g, Quế chi 4g,
Truật 3g, Cam thảo 2g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Trị các chứng thần kinh dễ bị kích thích,
rối loạn thần kinh chức nǎng, chóng mặt, tim đập mạnh, tức thở, đau đầu ở
những người chóng mặt, người lảo đảo, tim đập mạnh và lượng tiểu tiện
giảm.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược:
Đây là bài thuốc loại trừ nước giống như Ngũ linh tán, bài thuốc này
được dùng trị các thủy chứng do nước ứ trong dạ dày gây ra. Bệỷnh trạng
được biểu hiện dưới các dạng thủy chứng, chóng mặt, tức thở, mạch tim
tǎng vọt, cảm giác người lao đao, ứ nước trong dạ dày, lượng tiểu tiện
giảm do nước ứ cùng với khí thượng xung gây ra. Do đó bài thuốc này khác
với Ngũ linh tán ở chỗ bệnh nhân của bài thuốc Ngũ linh tán do có lý nhiệt
nên có ứ nước trong dạ dầy bị đẩy ngược trở ra dẫn tới nôn mửa, khát
nước, còn trong những chứng này thì không có chứng nhiệt. Bài Liên châu ẩm
dùng cho những bệnh nhân bị các chứng bệnh của bài thuốc này cộng thêm
chứng hư huyết, là bài thuốc kết hợp với bài thuốc này với Tứ vật thang.
Có khá nhiều bài thuốc tương tự với bài thuốc này: Linh khương truật cam
thang thay Quế chi trong bài thuốc này bằng Can khương, Phục linh cam thảo thang
thay Bạch truật bằng Sinh khương, Linh quế cam táo thang thay Bạch truật bằng
Đại táo, Linh quế vị cam thang thay Bạch truật bằng Ngũ vị tử, v.v...
Sách Phương hàm loại tụ viết: "Mục đích của bài
thuốc này là loại trừ nước ứ. Khí thượng xung lên họng, hay chóng mặt cũng
như run chân tay, tất cả đều là do nước ứ mà ra. Những người chóng mặt mà
vùng thượng vị nghịch mãn, buồn nôn thì dùng thuốc này. Nếu dùng thuốc này
mà vẫn không khỏi thì dùng Trạch tả thang. Những người đó tuy không còn
chóng mặt, nhưng dạ dày vẫn còn yếu, do đó mặt vẫn nhǎn nhó khó chịu. Bài
thuốc này thêm một vị Thực tử để trị xuyễn. Thuốc cũng có tác dụng đối
với những người chân bị teo do thủy khí, ngoài ra thuốc còn được dùng cho
những người chân run, vùng thắt lưng đau, khi nằm xuống thì vùng xương sống
chuyển rần rật hoặc mạch trên toàn thân chuyển, những người bị ù tai và
nôn".
Theo Chẩn liệu y điển: Bài thuốc này được dùng cho
các đối tượng thủy độc bị ứ đọng ở vùng bụng trên, lượng tiểu tiện
giảm, khí thượng xung, chóng mặt người cảm thấy lao đao, mạch đập tǎng
vọt. Các triệu chừng này giống triệu chứng của bài Chân vũ thang, nhưng Chân
vũ thang thì âm chứng còn bài thuốc này thì dương chứng, cho nên mạch khỏe,
bụng tuy có tiếng nước óc ách nhưng cơ bụng khỏe chứ không mềm nhão.
Theo Thực tế ứng dụng: Thuốc dùng cho những người có
thủy độc ứ ở phần bụng trên gây ra mạch đập mạnh và chóng mặt. Có nhiều
mức chóng mặt khác nhau: ngồi xuống đứng lên chóng mặt hoa mắt, người cảm
thấy lao đao, song hoa mắt là triệu chứng chủ yếu của loại bệnh này. Đồng
thời, bị tức thở, mạch đập tǎng vọt, đau đầu thượng xung, lượng tiểu
tiện giảm. Mạch trầm khẩn, phần bụng nhìn chung là mềm nhão, vùng bụng trên
có tiếng nước óc ách, hơi cǎng. ở xung quanh rốn, phần nhiều là mạch đập của động mạch
vùng bụng tǎng mạnh.
Sách San anh tán trị liệu tạp thoại viết: "Bài
thuốc này có tác dụng trị bệnh động kinh, tiếng đập thổn thức trong bụng
mạnh, khí dâng từ bụng dưới lên ngực, thở gấp, chân tay co thắt. Đối
tượng của bài thuốc là vùng bụng trên bị chướng ngồi xuống đứng lên bị
choáng đầu, mạch đập nhanh, còn những người sắc mặt tươi, mạch không trầm
và cǎng thì bài thuốc này không có hiệu quả. Đó là bí quyết của gia đình
nhà Wada".