Thành phần và phân lượng: Hương phụ tử 3,5-6g, Tử
tô diệp 1-2g, Trần bì 2-3g, Cam thảo 1-1,5g, Can sinh khương 1-2g.
Cách dùng và lượng dùng:
1. Tán: mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1-2g.
2. Thang.
Công dụng: Dùng trong giai đoạn đầu cảm do phong tà ở
những người vị tràng yếu, thần kinh nhạy cảm.
Giải thích:
Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài thuốc được
dùng gấp khi những người bụng dạ lúc nào cũng yếu, vùng thượng vị bị đầy
tức, tinh thần không thoải mái cảm thấy đau đầu, sốt ởn lạnh, có triệu
chứng của cảm mạo. Bài thuốc này là loại thuốc bổ tì vị có hương thơm,
nhưng có lẽ có tác dụng đối với cả những bệnh trạng thần kinh khác. Bài
thuốc này có thể dùng dưới dạng bột thô đem sắc uống mỗi ngày 3 lần, hoặc
dùng bột mịn cho thêm muối ǎn vào sắc uống cũng được.
Bài thuốc này không được dùng khi bị cảm ra mồ hôi hoặỷc
người quá yếu.
Theo Kỳ hiệu lương phương: Bài thuốc này còn có tên
là Hương tô ẩm, dùng để trị thương hàn bốn mùa, đau đầu, sốt ớn lạnh,
thuốc uống làm một lần, cho thuốc vào 2 gáo nước, 5 lát gừng tươi, 3 củ
hành tươi sắc lấy 1 gáo để uống, những người đầu đau nhiều thì cho thêm
Xuyên khung và Bạch chỉ gọi là Khung chỉ hương tô ẩm.
Theo Giải thích bài thuốc: Bài thuốc này dùng trị bệnh
cảm mạo dạng nhẹ, nếu sử dụng Cát cǎn thang thì quá mạnh. Thuốc này hiếm
khi được dùng cho những bệnh có sốt bệnh trạng nặng mà người ta thường
gọi là ôn dịch thương hàn. Thuốc có tác dụng phát tán khí uất cho nên
dùng rất có hiệu quả đối với những người vừa bị cảm mạo vừa bị khí uất.
Mạch nhìn chung là trầm tế yếu. Những triệu chứng của bệnh biểu hiện qua các
hiện tượng ngực và bụng đầy tức, nếu bị nặng thì bụng đau, đầu óc cảm
thấy nặng nề, ngại hoạt động, đau đầu, nặng đầu, chóng mặt, ù tai, chân
tay mỏi mệt, tất cả những hiện tượng đó là do khí huyết không lưu thông
gây ra. Nếu dùng thuốc này để chữa cảm mạo cho những người ngày thường bị
ợ chua, nôn mửa thì nhất định có hiệu nghiệm. Phụ nữ bị các chứng bệnh về
huyết đạo dùng các thuốc chữa về huyết không có hiệu quả thì phần nhiều
dùng thuốc này có hiệu quả.