Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 2-3g, Truật 2-3g,
Phục linh 2-3g, Toan táo nhân 2-3g, Long nhãn nhục 2-3g, Hoàng kì 2-3g, Đương
quy 2,0g, Viễn chí 1-2g, Sài hồ 3,0g, Sơn chi tử 2,0g, Cam thảo 1,0g, Mộc hương
1,0g, Đại táo 1-2g, Can sinh khương 1,0g (Sinh khương 1,5g); Mẫu đơn bì 2,0g
(Mẫu đơn bì không có cũng được).
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng thiếu máu,
mất ngủ, tinh thần bất an, bệnh thần kinh ở những người suy nhược, thể chất
yếu và huyết sắc kém.
Giải thích:
Theo sách Tế sinh toàn thư: Đây là bài thuốc được
dùng cho những người có chứng bệnh giống như trong bài Quy tì thang cộng thêm
các chứng về huyết ở trạng thái nhiệt, bài thuốc được thêm các vị Sài hồ
và Sơn chi tử. Bài Quy tì thang chính là bài Tứ quân tử thang chủ trị các
chứng suy nhước tì vị cộng thêm các vị thuốc bổ huyết, an thần và cầm máu
để dùng cho những người tì vị yếu lại hoạt động tinh thần quá mức dẫn
tới cả cơ thể lẫn tinh thần đều bị mệt mỏi quá mức, sinh ra các chứng xuất
huyết, đái ra máu, albumin niệu, chức nǎng của thận bị rối loạn khiến cho
tinh thần bất an, mất ngủ, có các chứng thần kinh, thiếu máu. Do đó, bài này
cũng còn được dùng để trị các chứng xuất huyết và bệnh về máu như xuất
huyết trong ruột, xuất huyết tử cung, loét dạ dày, đái ra máu v.v...; bệnh
máu trắng, kinh nguyệt thất thường, thuốc này cũng được dùng để chữa các
bệnh thần kinh như chứng hay quên, mất ngủ, đánh trống ngực do thần kinh,
hysteria, suy nhược thần kinh, di tinh, v.v...
Theo các tài liệu tham khảo: Thuốc dùng cho những người gầy
yếu, thể lực giảm sút, sắc mặt xấu, thiếu máu không rõ nguyên nhân, thiếu
máu ác tính, thiếu máu khó hồi phục, tâm thần bất an, đánh trống ngực dồn
dập, nói trước quên sau, đêm khó ngủ, lo nghĩ vẩn vơ, sốt, đổ mồ hôi
trộm hoặc nằm li bì, chân tay mỏi mệt, bí đại tiện, hoặc phụ nữ kinh nguyệt
thất thường, âm môn nóng và ngứa. Thuốc cũng dùng cho những người bị các
chứng về máu như hạ huyết, xuất huyết, thổ huyết, cơ thể suy nhược, sốt, di
tinh, lậu (bạch trọc).