Thành phần và phân lượng: Đương quy 3-4g, Quế chi
3-4g, Thược dược 3-4g, Mộc thông 2-3g, Đại táo 3-6,5g, Tế tân 2-3g, Cam thảo
2-2,5g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Trị các chứng cước, đau vùng bụng dưới,
đau vùng thắt lưng, ỉa chảy, đau khi có kinh, chứng lạnh ở những người chân
tay lạnh.
Giải thích:
Theo sách Thương hàn luận: Đây là bài thuốc gia giảm
của Quế chi thang, bỏ Sinh khương, thêm Đại táo, Đương quy, Tế tân, Mộc
thông. Cũng có thể coi đây là bài thuốc gia giảm của Đương quy kiến trung
thang. Thuốc dùng trị tình trạng tuần hoàn máu bị cản trở do hư hàn ở bên
ngoài (chẳng hạn như bệnh cước khí, sán thống v.v...).
Theo các tài liệu tham khảo khác: Đối tượng của bài thuốc
này là những người chân tay bị lạnh, mạch tế. Thuốc còn dùng cho những
người khi chân tay bị lạnh là hơi ứ lại trong bụng làm cho bụng đau, tức là
những người mà người xưa gọi là bụng sán khí (sán khí phúc). Bài thuốc
này cũng rất tốt đối với chứng cước, đau thần kinh hông, sán thống ruột,
viêm phúc mạc mạn tính, thoát tử cung, đau bụng do tử cung và các phần phụ.
Cần phải xem đây là bài thuốc gia giảm của Đương quy kiến
trung thang, đối tượng của nó là những người "bị lạnh chân tay, mạch
tế". Bài thuốc này dùng cho chứng mà người xưa gọi là sán khí, tức là
phần bụng nhìn chung là hư mãn, cơ thẳng bụng của bụng cǎng, sờ vào bụng
thì thấy phía ngoài bụng có vật chướng, song ấn tay xuống thì chỗ đó mềm,
hơi dễ ứ lại trong bụng.
Sách Y thánh phương cách viết: "Những người bị
thoát huyết (gọi chung tất cả những người thất thoát dịch phân) thức ǎn
thức uống ứ lại ở vùng bụng trên, đầu đau hoặc toàn thân đau thì phải
dùng Đương quy tứ nghịch thang".