Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 1-2g, Mẫu đơn
bì 4g, Đào nhân 4g, Mang tiêu 4g, Đông qua tử 4-6g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Công dụng: Dùng trị các chứng kinh nguyệt bất thường,
kinh nguyệt khó khǎn, bí đại tiện và bệnh trĩ ở những người có thể lực
tương đối khá, đau bụng dưới và hay bí đại tiện.
Giải thích:
Theo sách Kim quỹ yếu lược: Bài thuốc này còn có tên
gọi khác là Đại hoàng mẫu đơn thang.
Theo Chẩn liệu y điển: Đây là một bài thuốc loại trừ
ứ huyết, có thể dùng cho những người thể lực khá tốt, có các chứng bệnh
giống với bài Đào hạch thừa khí thang nhưng bệnh trạng ít cấp bách, những
người có chứng bệnh giống như trong bài Quế chi phục linh hoàn, nhưng thực
chứng hơn ở bài Quế chi phục linh hoàn mà lại bị bí đại tiện.
Nếu khám bụng thì phần bụng dưới có vật chướng, đau dội
và bí đại tiện. Những hiện tượng này thường xuất hiện ở bụng dưới phía
tay phải, nhưng cũng không nhất thiết như vậy. Bài thuốc này được dùng để
chữa viêm ruột thừa, nhưng trong trường hợp đau chỉ tập trung ở phần manh
tràng, người bị sốt, miệng khát, bí đại tiện, mạch trì khẩn. Nếu mạch
hồng sác thì đó là triệu chứng báo hiệu đang bị lên mủ, bài thuốc này
không có tác dụng.
Bài thuốc này phần nhiều được dùng để trị các chứng viêm
ở nửa thân bên dưới, và ngoài trị viêm ruột thừa, bài thuốc này còn
được dùng để chữa viêm vùng quanh hậu môn, viêm ruột kết, viêm trực
tràng, lị, trĩ, viêm tử cung và phần phụ, viêm tuyến sữa, sốt và các bệnh
sau đẻ, viêm phúc mạc vùng xương chậu, sưng bạch hạch (bubo), lậu, viêm
tiền liệt tuyến, viêm mào tinh hoàn do lậu, viêm bể thận, sỏi niệu đạo,
viêm bàng quang v.v...
Nếu uống thuốc này mà lại đau thêm, bọc nước và cục cứng
tǎng thêm và bụng càng đầy trướng hơn thì phải tính tới bài thuốc khác.
Có thể phải chuyển sang dùng bài ý dĩ phụ tử bại tương tán, Tràng ung thang.