Thành phần và phân lượng: Truật 4g, Hậu phác 3g, Trần
bì 3g, Đại táo 2g, Cam thảo 1g, Can sinh khương 0,5-1g.
Cách dùng và lượng dùng: Về nguyên tắc là dùng ở
dạng thang.
Theo Hòa tễ cục phương: Nghiền tất cả vác vị trong
bài thuốc, trừ Sinh khương và Đại táo, thành bột tơi mịn cho vào sắc cùng
với Sinh khương cắt lát và Đại táo phơi khô bổ đôi, sau đó vớt bỏ Sinh
khương và Đại táo, còn lại uống lúc thuốc còn nóng, hoặc cho bột thuốc,
trừ Sinh khương và Đại táo, vào với một ít muối ǎn hòa với nước nóng
để uống khi bụng đói trước bữa ǎn. Nhưng nói chung người ta chỉ dùng
nước sắc của 6 vị thuốc trên.
Công dụng: Trị các chứng viêm niêm mạc dạ dày cấp
và mạn tính, mất trương lực dạ dày, tiêu hóa không tốt, ǎn không ngon
miệng ở những người bị đầy bụng và có chiều hướng ǎn không ngon miệng.
Giải thích:
Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài thuốc kiên
vị dùng khi nước bị ứ trong dạ dày, tiêu hóa kém, vùng quanh thượng vị
cǎng, không muốn ǎn uống, nếu ǎn vào bụng kêu óc ách.
Bài thuốc này là nòng cốt của bài thuốc Gia vị bình vị
tán, Hương sa bình vị tán, Bất hoán kim chính khí tán, Hoắc hương chính
khí tán, Phân tiêu thang và Ngũ tích tán.
Bài Vị linh thang là bài thuốc kết hợp của Ngũ linh tán với
Bình vị tán, trị chứng tỳ vị bất hòa, không muốn ǎn uống, bụng sườn cǎng
và đau dữ, miệng đắng ǎn gì cũng thấy nhạt nhẽo, tức ngực, thở gấp, buồn
nôn và nôn mửa, ợ hơi và ợ chua, mặt vàng bệnh, người gầy yếu, mỏi mệt
chỉ thích nằm, người cảm thấy nặng nề và khớp đau, đái nhiều hoặc thổ
tả. Nếu uống thường xuyên thì có tác dụng điều khí, ấm dạ dày, tiêu hóa
thức ǎn ứ trong dạ dày, tiêu đàm ẩm, tránh được phong hàn lãnh thấp và
các chứng bệnh thời tiết.
Theo Chẩn liệu y điển: Bài thuốc này dùng để tiêu
hóa thức ǎn ứ trong dạ dày, loại trừ nước ứ trong dạ dày. Các triệu chứng
có thể tự mình nhận thấy là ǎn uống không ngon miệng, đầy bụng, vùng bụng
trên đầy tức, ǎn xong sôi bụng và ỉa chảy. Thuốc dùng cho những người có
mạch và cơ bụng chưa yếu lắm. Bài thuốc này không dùng cho những người bị
thiếu máu, hư chứng, cơ bụng rất chùng. Với những mục tiêu nói trên, bài
thuốc được ứng dụng trị các chứng viêm niêm mạc dạ dày cấp và mạn tính,
mất trương lực dạ dày, giãn dạ dày v.v...
Theo các tài liệu tham khảo khác: Mục tiêu của bài thuốc là
tiêu hóa thức ǎn bị ứ trong dạ dày và đàm ẩm. Bài thuốc được đặt tên
là Bình vị tán với ý nghĩa là bài thuốc có tác dụng san bằng thủy độc và
thực độc (nước ứ và thức ǎn ứ) trong bộ máy tiêu hóa, trong tỳ vị. Tức
là, bài thuốc này dùng cho những người tiêu hóa không được, vùng bụng
trên bị tắc cho nên hai cái độc là thức ǎn và nước uống bị đọng lại
trong vị tràng nhưng người ǎn uống không ngon miệng, vùng bụng trên bị đầy
tức, ǎn vào bụng sôi và ỉa chảy, mạch và cơ bụng đều chưa hư nhược lắm.