Thành phần và phân lượng: Đương quy 3g, Thược dược
3g, Sài hồ 3g, Truật 3g, Phục linh 3g, Sinh khương 2g, Cam thảo 1,5g, Bạc hà
diệp 1g.
Cách dùng và lượng dùng: Thang.
Theo Hòa tễ cục phương: Các vị trên nghiền thành bột
thô, mỗi lần uống dùng 2 tiền, sắc với 1 bát ô tô nước cùng với một lát
gừng nướng, một nhúm nhỏ bạc hà lấy 7/10 bát, bỏ bã uống lúc thuốc còn
nóng, không câu nệ về thời gian.
Công dụng: Trị các chứng lạnh, thể chất hư nhược,
kinh nguyệt thất thường, kinh nguyệt khó, các chứng của thời kỳ mãn kinh, các
chứng về đường kinh ở những người bị các chứng tinh thần thần kinh như đau
tê vai, dễ mệt mỏi, tinh thần bất an và đôi khi có chiều hướng bị bí đại
tiện.
Giải thích: Theo Hòa tễ cục phương: Bài thuốc
này còn có tên gọi khác là Tiêu dao tán.
Đây là bài thuốc chủ yếu dùng cho phụ nữ, những người ở
dạng thể chất hư nhược, có chứng lạnh, dễ mệt mỏi khi bị các chứng bệnh
thần kinh. Bài thuốc này nếu thêm Mẫu đơn bì và Sơn chi tử thì trở thành
Gia vị tiêu dao tán (hay Đơn chi tiêu dao tán), nhìn chung bài thuốc này rất
hay được dùng.
Tên thuốc là Tiêu dao tán dùng trị chứng hư huyết, mỏi mệt,
ngũ tâm phiền nhiệt, người và chân tay đau, nặng đầu chóng mặt, người bồn
chồn, má đỏ, miệng khô, cổ khô, phát nhiệt và đổ mồ hôi trộm, ǎn uống
không ngon miệng, chỉ muốn nằm, hoặc nhiệt huyết tương truyền, kinh nguyệt
không đều, vùng bụng quanh rốn cǎng và đau, hàn nhiệt như sốt rét, hoặc
chữa cho những người phụ nữ huyết nhược âm hư, dần dần thành chứng cốt
chưng ho đờm và sốt cơn, thân thể gầy còm.
Theo Trung quốc đại từ điển: Đây là bài Bát vị tiêu
dao tán, tức là bài thuốc số 3 trong các bài Tiêu dao tán dùng để trị cho
những người phụ nữ hư huyết, người mệt mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, người
và chân tay đau nhức, nặng đầu chóng mặt, tâm trạng bồn chồn, má đỏ,
miệng khô họng ráo, phát sốt, đồ mồ hồi trộm, kém ǎn chỉ muốn nằm, hoặc
huyết nhiệt tương truyền, kinh nguyệt không đều, vùng xung quanh rốn cǎng
đau, hàn nhiệt như sốt rét, đại tiện táo bón, những phụ nữ huyết nhược
âm hư, ho đờm và sốt cơn, người gầy, dần dần trở thành chứng cốt chưng
(Cam thảo mỗi thang 5 tiền). Chế thành tán mỗi lần uống 3-4 tiền với một bát
nước sạch và cho thêm 3 miếng, Sinh khương lùi, 20 hạt Mạch môn đông (mỗi
thang cho 3 phân Bạc hà), sắc lấy 6/10 bát, bỏ bã, uống khi thuốc còn nóng,
không câu nệ về thời gian.
Theo Trị liệu theo triệu chứng: Bài thuốc này rất có
hiệu nghiệm đối với những người có mang bị rộp lưỡi. Meguro viết trong San
anh quán trị liệu tạp thoại rằng: "Đối tượng của bài thuốc này là
những người do những chứng bệnh khác nhau mà có hư nhiệt, mạch nhanh, khí
uất, tâm trạng bức bối, dễ nổi cáu, đầy tức dưới tâm, hai bên nách co
thắt, đặc biệt là co thắt mạnh ở nách trái, hoặc có tiếng máy động ở bên
trái. Đối với những người có mụn trong miệng, lưỡi, họng thì phần nhiều
là thực nhiệt, ít trường hợp hư chứng. Bài thuốc này thích hợp với những
người có mụn trong mồm và lưỡi do hư nhiệt. Bài thuốc này chắc chắn có
hiệu nghiệm với chứng đầu lưỡi hoặc trên lưỡi mọc nhiều mụn hoặc rộp
lưỡi. Hiện tượng này là do hư nhiệt chủ thận và gan hoạt động dẫn tới bị
mụn nhọt , cho nên cả mạch và cơ bụng đều không thực".