|
Tứ thần hoàn
(Chứng trị
chuẩn thằng)
|
Tứ thần hoàn |
Phá cố chỉ |
16 |
Nhục đậu khấu |
8 |
Sinh khương |
32 |
|
Ngũ vị |
8 |
Ngô thù |
4 |
Táo |
4 |
|
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
Cách dùng: Bốn vị đầu tán mịn, dùng
nước sắc S khương, táo trộn với bột thuốc, thêm một ít bột mỳ luyện thành hoàn
mỗi lần 12-16, uống với nước muối nhạt hoặc nước sôi để nguội trước khi đi ngủ.
Tác dụng: Ôn tỳ thận cố sáp chỉ tả.
Lâm sàng: Bài này dùng chữa các bệnh
viêm đại tràng mãn, lao ruột có hội chứng tỳ thận hư hàn, tiêu chẩy kéo dài hoặc
vào lúc sáng sớm. Trường hợp tiêu chẩy lâu ngày có biến chứng sa trực tràng nên
thêm Đẳng sâm, Hoàng kỳ, thăng ma, để ích khí thăng đề. Trường hợp tiêu chẩy khó
cầm, lưng đau chân lạnh, thuộc tỳ dương hư nặng, gia phụ tử chế, Nhục quế để ôn
bổ thận dương. nếu bụng dưới đau nhiều, bỏ Ngũ vị, ngô thù gia hồi hương để ôn
thận hành khí chỉ thống. Nếu rối loạn tiêu hoá kéo dài do thực tích không dùng
được bài này. có báo cáo dùng bài này trị viêm đại tràng cơ năng, tiêu chẩy mãn
tính có kết quả.
Giải thích: Bài thuốc chủ yếu trị
chứng tiết tả do tỳ thận hư hàn, sinh ra chứng tiêu chẩy kéo dài, thường vào
buổi sáng sớm, lưng đau chân lạnh do thận dương hư, người mẹt mỏi chán ăn, tỳ
dương bất túc do đó phép chữa ôn tỳ thận để chỉ tả. trong bài vị bổ cốt chỉ bổ
mệnh môn hoả, ôn dưỡng tỳ dương là chủ dược, nhục đầu khấu ôn tỳ sáp tràng, ngô
thù ôn trung khu hàn, Ngũ vị toan liễm cố sáp, thêm Sinh khương ôn tỳ vị, đại
táo bổ tỳ dưỡng vị, các vị hợp thành một bài thuốc có tác dụng ôn tỳ thận sáp
tràng chỉ tả.
 Print
 |