|
Tả tâm thang |
Đại hoàng |
8-12 |
Hoàng cầm |
12 |
Hoàng liên |
8-12 |
Tác dụng
: tả hoả trừ thấp dùng với các chứng tâm vị hoả thịnh gây nên nôn ra huyết, chẩy
máu cam, táo bón, hoặc tam tiêu tích nhiệt, mắt đỏ, miệng lở, hoặc ung nhọt,
hoặc thấp nhiệt, vàng da, ngực sườn đầy tức, rêu vàng dầy, Mạch sác hữu lực
Dùng 120ml nước sắc cô
lấy 40 ml uống trong 1 lần.
Trong trường hợp bào
tễ thỡ cho vào đó 100 ml nước sôi đun sôi trong 3 phút, bỏ bó, uống trong 1 lần.
Trong trường hợp dùng
vải bọc để sắc thỡ cho vào 100 ml nước sôi đun sôi trong 3 phút, bỏ bó, uống
trong 1 lần. Khi bị thổ huyết, đổ máu cam, và các chứng xuất huyết khác (xuất
huyết do trĩ, đái ra máu, xuất huyết dưới da) thỡ dựng vải bọc để sắc lấy nước,
để nguội rồi mới uống. Bài này không được dùng cho những người bị xuất huyết kéo
dài, thiếu máu rừ rệt và những người mạch vi nhược.
Cụng dụng:
Thuốc dùng để trị các chứng đi liền với tăng huyết áp (chóng mặt, đau tê vai, ù
tai, nặng đầu, mất ngủ, bồn chồn bất an), đổ máu cam, xuất huyết do trĩ, bí đại
tiện, các chứng của thời kỳ món kinh, cỏc chứng bệnh về huyết ở những người thể
lực tương đối khá, hay bị chóng mặt, mặt đỏ từng cơn,
Sách Phương cực
ghi bài thuốc này dùng để "trị tỡnh trạng tinh thần bất an, vựng thượng vị bị
đầy tức, nhưng nếu ấn vào bụng thỡ thấy mềm". Sỏch Y thánh phương cách
ghi "những người bị thổ huyết, đổ máu cam và các dạng xuất huyết khác mà phần
bụng dưới bị đầy tức, người bứt rứt khó chịu, nhiệt phiền, phân khô, những người
bị nặng thỡ lưỡi rộp vàng, mặt và mắt đỏ. Những người như vậy phải dùng Tả tâm
thang". Cần phải nói rằng hai bài thuốc này dùng chủ yếu cho những người máu dồn
lên mặt, mặt đỏ từng cơn, tâm trạng bất an, bí đại tiện và mạch căng, ... Thuốc
được dùng khi bị sung huyết nóo, xuất huyết nóo, khạc ra mỏu, thổ huyết, đổ máu
cam, xuất huyết tử cung, xuất huyết do trĩ; khi bị hoảng hốt và lo lắng vỡ chảy
mỏu ngoại thương thỡ uống thuốc này liền một lần sẽ cú tỏc dụng làm cho tinh
thần trấn tĩnh và cầm được máu. Tuy nhiên, đối với những người ra máu kéo dài,
thiếu máu rừ rệt và mạch vi nhược thỡ khụng nờn dựng bài thuốc này. Ngoài những
biểu hiện núi ở trờn, bài thuốc này cũng cũn được dùng trong các trường hợp tăng
huyết áp, chứng thần kinh, mất ngủ, loét dạ dày, viêm dạ dày, bệnh về huyết đạo,
các chứng của thời kỳ món kinh, bệnh da, bệnh mắt, động kinh, bệnh tinh thần,
bỏng, v.v...

Print
 |