|
Quế Chi Thang
Thương hàn luận
Thành phần
|
Quế chi thang |
Quế chi |
12 |
Bạch thược |
12 |
Trích thảo |
6 |
|
Sinh khương |
12 |
Táo |
4q |
|
|
|
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
Cách dùng :
Uống lúc thuốc càn nóng hoặc uống xong ăn cháo nóng, về mùa đông chùm chăn cho
ra mồ hôi vừa phải
Tác dụng :
Giải cơ phát biểu, hoà vinh vệ
Ứng dụng lâm sàng : Bài thuốc này ngoài việc dùng chữa biểu chứng ngoại cảm
phong hàn biểu hư còn có thể dùng trong những trường hợp sau:
- Nếu bệnh nhân ho xuyễn gia: Hậu phác , Hạnh nhân để bình xuyễn chỉ khái gọi là
bài “Quế chi gia Hậu phác, Hạnh nhân thang” ( thương hàn luận)
- Những trường hợp sau
khi mắc bệnh, sau khi sinh mà có hơi hàn, có lúc hơi nhiệt, mạch hoãn ra mồ hôi
có thể dùng bài quế chi thang để điều trị
- Trường hợp phụ nữ có thai nôn nặng , khí huyết không điều hoà có thể dùng điều
trị có kết quả tốt
- Trường hợp cảm phong hàn thấp đau nhức mình mẩy gia thêm vị Uy linh, Tục đoạn,
Phòng phong, Khương hoạt, Ngũ gia bì, có tác dụng tăng cường trừ phong thấp giảm
đau
-Trường hợp đã dùng quế chi thang có thêm chứng cứng gáy , đau lưng gia: Cát căn
gọi là bài quế chi gia cát căn thang ( thương hàn luận)
- Trường hợp di tinh chóng mặt, đạo hãn, tự hãn, gia: Long cốt , Mẫu lệ điều hoà
âm dương vừa cố sáp
Gọi là bài Quế chi mẫu lệ long cốt thang
Chú ý : Không dùng trong các trường hợp sau; ngoại cảm phong hàn biểu thực.
- Trường hợp bệnh truyền nhiễm thời kì đầu sốt rét, ra mồ hôi, khát nước, lưỡi
đỏ rêu vàng mạch sác không dùng
-Tài
liệu tham khảo:
Theo một số báo cáo lam sàng thì bài quế chi thang gia giảm như sau : Cát căn
20-40 ; Mộc hương 6 ; Bạch thược 12; Phòng phong 12; Sài hồ 6; Cam thảo 4; Táo
6q;
- Sắc uống chữa
chứng cứng gáy tốt ( torticoli) theo tài liệu vị thuốc cát căn có tác dụng tăng
cường giãn mạch tang cường sự lưu thông máu , chống co thắt , làm giảm đau
Tham khảo
Có
tác dụng: Làm máu lưu thông, làm ấm thân thể và tăng cường chức năng của các cơ
quan trong cơ thể. Khi dùng thuốc này để chữa các bệnh có sốt, chẳng hạn như cảm
mạo, thì mục tiêu của nó là trị ớn lạnh, sợ gió, phát sốt, đau đầu và mạch phù
nhược. Trong trường hợp này, thuốc có thể dùng cả khi có đổ mồ hôi lẫn không đổ
mồ hôi.
Bài thuốc này trị các chứng của tạp bệnh nói chung không có nhiệt bởi vì tuy
không có ớn lạnh, sợ gió, nhưng mạch nhược.
Thuốc này cũng còn được dùng trong các trường hợp cảm mạo, đau thần kinh, đau
đầu, đau bụng lạnh, thể chất gầy yếu suy nhược, bị nôn do nghén, v. v..
Quế chi thang là bài thuốc đầu tiên của sách Thương hàn luận và nó là cơ sở của
nhiều bài thuốc khác. Trong sách Thương hàn luận có tới 60 bài thuốc có thành
phần Quế chi, trong đó có tới 30 bài thuốc Quế chi là thành phần chủ đạo. Lương
y Isada Muhetaka cho rằng bài thuốc này là ông tổ của các bài thuốc khác, trong
các bài thuốc cổ có tới hàng trăm bài thuốc bắt nguồn từ bài thuốc này. Quế chi
thang được ứng dụng chữa các bệnh cảm mạo, đau thần kinh, đau đầu, đi tả, đau
bụng do lạnh, v.v...
Trường hợp dùng Quế chi thang là những bệnh thể hiện biểu hư đó là bệnh tà ở
biểu, người lại gầy yếu, gân cốt yếu. Do đó, người dễ đổ mồ hôi và phần nhiều là
những người thường ngày cơ thể hư nhược. Những người như vậy nếu uống thuốc giải
nhiệt làm cho đổ mồ hôi thì mồ hôi lại ra không dứt, nhiệt độ cơ thể có giảm
xuống nhưng người mệt mỏi rã rời. Triệu chứng của những người dùng bài Quế chi
thang này không dứt khoát là cứ phải đổ mồ hôi mà đôi khi không có mồ hôi. Sách
Thương hàn luận cho rằng những lúc như vậy nên uống Quế chi thang khi thuốc còn
nóng, lấy chăn đắp cho ra chút ít mồ hôi. Như vậy, Quế chi thang có tác dụng cầm
mồ hôi ở những người đổ mồ hôi và kích thích ra mồ hôi ở những người không ra mồ
hôi để hạ nhiệt và làm lành bệnh. Sách Thương hàn luận gọi tác dụng này là "giải
cơ"
 Print
 |