|
Lý Trung Hoàn
(Thương hàn luận)
Có tên khác là Nhân sâm thang
|
Lý trung hoàn |
Can khương |
|
Chích thảo |
|
Bạch truật |
|
|
Đảng sâm |
|
|
|
|
|
|
|
|
Lượng bằng nhau |
Cách dùng:
Tất cả tán bột mịn dùng mật luyện thành hoàn mỗi lần uống 8-16g, ngày uống 3 lần.
Có thể sắc nước uống.
Tác dụng:
Ông trung khu hàn, bổ ích tỳ vị.
Giải thích bài thuốc:
Trong bài thuốc vị Can khương ôn trung khu hàn hồi phục tỳ dương là chủ dược.
Đảng sâm bổ khí kiện tỳ, Bạch truật kiện ký táo thấp và Chích thảo bổ tỳ hòa
trung và điều hòa các vị thuốc.
Ứng dụng lâm sàng:
Bài thuốc chữa các chứng tỳ vị hư hàn, có những triệu chứng bụng đau tiêu lỏng,
nôn mửa hoặc đầy bụng, ăn ít, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch “ trầm tế” hoặc “ trì
hoãn”.
Nếu hàn chứng rõ dùng tăng lượng can khương, tỳ
hư rõ ràng tăng lượng Đảng sâm. Trường hợp tiêu chảy nhiều lần, Bạch truật sao
khử trổ để tăng tác dụng sáp tràng chit tả. Trường hợp hư hàn nặng, sắc mặt tái
nhợt, chân tay lạnh gia Thục phủ tử để tăng cường ôn dương khư hàn, có tên gọi
là bài Phụ Tử Lý trung thang (Hòa tễ cục phương) hoặc gia nhục quế gọi là bài
Phụ quế lý trung hoàn. Trường hợp kiết lị mãn tính thuộc thể tỳ vị hư hàn dùng
bài thuốc gia Hương liên hoàn để lý khí hóa trệ. TRường hợp viêm ruột mạn tính,
rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày tá tràng, thuộc thể tỳ vị hư hàn có thể dùng
bài thuốc này gia giảm. trường hợp hàn dùng bài thuốc này gia A giao, Ngải diệp,
Địa du, Hoa hòe để tăng thêm tác dụng chỉ huyết. Trường hợp chứng tỳ vị hư hàn
do sán lãi đau bụng hoặc nôn ra giun đũa dùng bài thuốc gia thêm hồ tiêu, Ô mai,
Phục linh bỏ cam thảo gọi là bài Lý trung an hồi thang (Vạn bệnh hồi xuân).
Trường hợp tỳ vị dương hư, tỳ vận hóa kém sinh
ra đàm thấp ảnh hưởng đến phế gây ho đàm nhiều, noãn hoặc nôn nước trong, có thể
gia Chế bán hạ, Bạch linh để táo thấp hóa đờm gọi là bài
Lý trung hóa đàm hoàn
thêm Tô tử có tác dụng giáng khí định suyễn gọi là bài Lý trung giáng hóa đàm
hoàn dùng trị đàm suyễn.
 Print
 |